Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 02/08/2010 21:03 (GMT+7)

Quản lý, sử dụng hợp lý tài nguyên nước cho thủy điện

Trên toàn quốc có hơn 30 dự án thủy điện lớn đang hoạt động, cung cấp gần 40% tổng công suất lắp máy trên mạng lưới điện. Mức công suất lắp máy thủy điện hiện nay chiếm 22,8% tiềm năng kỹ thuật. Theo Ngành điện, từ 2010 - 2025, dự kiến sẽ phát triển thêm 26 đập thủy điện nữa ở các lưu vực sông lớn, đến năm 2020, hầu hết tất cả trữ năng kỹ thuật và kinh tế của thủy điện đều sẽ được phát triển (khoảng 90%). Trong khi đó, dự kiến trong tương lai, Việt Nam sẽ thiếu nước nghiêm trọng, đặc biệt vào mùa khô. Như vậy, sự căng thẳng này sẽ gây áp lực lên các con sông.

Hiện nay, gần 57% tổng lượng nước của Việt Nam là ở lưu vực sông Cửu Long và 95% trong số đó là từ sông Mêkông. Để đáp ứng nhu cầu năng lượng điện thì việc hợp tác phát triển thủy điện liên quan đến các lưu vực sông với Lào, Campuchia và Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng. Phát triển thủy điện mạnh mẽ đang diễn ra ở vùng Mêkông, với nhiều dự án hiện đang được xem xét cho dòng chính sông Mêkông, đặc biệt là Lào. Gần đây, Việt Nam , Campuchia và Lào đã thành lập một diễn đàn để thảo luận các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt phát triển thủy điện ở các vùng biên giới.

Tuy nhiên, việc phát triển thủy điện ở một số lưu vực, chỉ chú ý đến công suất tiềm năng thủy điện, mà không đánh giá đầy đủ đến việc cấp nước và mức thiệt hại cho các nhu cầu dùng nước khác. Có một số tác động tiêu cực liên quan đến thiết kế và vận hành thủy điện: Các công trình thủy điện ít khi được thiết kế để phục vụ cho nhu cầu nước ở hạ lưu nên không thể xả nước cho hạ du nếu không có thay đổi lớn về công trình; khi tích nước đầy các hồ chứa, dòng chảy hạ lưu hồ thường bị chặn lại. Quy trình vận hành cho các hồ chứa thủy điện thông thường không được lên kế hoạch trước giai đoạn thiết kế; hầu hết các trường hợp đều không có thiết kế giám sát an toàn đập và thiết bị dự báo lũ. Lũ do mưa lớn ở hạ lưu các hồ chứa có thể càng trầm trọng hơn, nếu xả nước từ hồ, và một số đập gặp phải vấn đề lớn về bồi lắng, vấn đề này cần được giải quyết trong giai đoạn thiết kế. Bên cạnh đó, phát triển thủy điện ở Việt Nam không nghiên cứu đầy đủ tác động giảm chất lượng nước, phá vỡ các công trình địa mạo tự nhiên, đa dạng sinh học thủy sinh và đánh bắt cá; những thay đổi lớn về thủy văn bao gồm gây ra những đoạn sông chết. Cải cách ngành điện thường bị chi phối bởi công suất mà ít chú ý đến nhu cầu điều tiết về nước hay môi trường. Nếu không có những tính toán rõ ràng, để xem xét tối ưu hóa các lợi ích của cơ sở hạ tầng khai thác nước, hài hòa các dự án, bảo vệ và đưa ra các quy định về việc sử dụng nước cho mục đích môi trường và hạ du, thì những tác động xấu của phát triển thủy điện có thể còn lớn hơn những lợi ích của việc tối đa hóa sản xuất điện.

Việc quy hoạch phát triển thêm thủy điện đã được thực hiện trên cơ sở lưu vực sông, nhưng chỉ dựa trên triển vọng phát triển của ngành thủy điện. Do vậy, cần sửa đổi lại quy hoạch phát triển thủy điện khi rà soát quy hoạch lưu vực sông. Các vấn đề về tài nguyên nước theo cách tiếp cận này thiếu quy hoạch hoặc phối hợp giữa ngành thủy điện và các ngành khác, dẫn tới các tác động không dự tính trước được. Tác động của phát triển thủy điện đối với các ngành khác bao gồm những thay đổi lớn về sự thay đổi chế độ dòng chảy và tác động tới cấp nước, những rào cản cho giao thông thủy và đường di chuyển của cá, và các tác động môi trường, xã hội, phát triển kinh tế.

Mặt khác, hiện nay, tiềm năng sử dụng đa mục tiêu của các hồ chứa chưa được khai thác nhiều, đầu tư lớn là từ các khu vực nhà nước. Vào giai đoạn này, chưa có tiến trình xem xét và tạo ra các lợi ích có thể từ các hồ chứa. Ví dụ, lợi ích giảm lũ tiềm năng của các hồ chứa thủy điện chưa được xem xét. Tăng tiềm năng công suất thủy điện ở các lưu vực sông cụ thể, dường như đã được xác định mà không đánh giá đầy đủ về khả năng của lưu vực trong việc cung cấp lượng nước cần thiết, các tác động tiêu cực đến các hộ dùng nước và sử dụng nước khác.

Hiện có một số dự án chuyển nước liên lưu vực để khai thác thủy điện, và nhiều dự án khác đang trong quy hoạch, bao gồm việc chuyển nước từ sông Đồng Nai sang cụm sông Đông Nam Bộ, từ Sê San sang Trà Khúc, từ sông Ba sang Kone, cũng như một số dự án chuyển nước có quy mô nhỏ khác. Những dự án chuyển nước này không xem xét đầy đủ các tác động đối với lưu vực cho nước, bao gồm những yêu cầu cấp nước tương lai của lưu vực đó đối với toàn bộ các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội ở các ngành khác diễn ra trên bản thân lưu vực đó. Đồng thời cũng không xem xét đầy đủ tác động môi trường đối với lưu vực cho nước. Ví dụ, lưu vực sông Đồng Nai là một trong số các lưu vực bị căng thẳng nhất trên toàn quốc, xét về dòng chảy mùa khô, chất lượng nước, các nhu cầu nước cho phát triển công nghiệp và cho các ngành khai thác khác đang tăng lên. Việc giảm hơn nữa dòng chảy trên lưu vực này thông qua chuyển nước liên lưu vực có thể làm hạn chế các giải pháp trong tương lai về quản lý chất lượng nước và dòng chảy môi trường, cũng như cấp nước. (Những khía cạnh này cũng cần được xem xét đầy đủ khi các quy hoạch thành phần của lưu vực sông).

Ở các hồ chứa sử dụng cho thủy điện, thủy lợi, việc khai thác tổng hợp các hồ chứa cũng như công tác bảo vệ môi trường, chất lượng nước và các tài nguyên vùng hồ còn bộc lộ một số bất cập. Tình trạng lấn chiếm đất công, đào ao, đắp đập nuôi cá, chăn nuôi gia súc, tập trung trong vùng bán ngập ở nhiều hồ chứa thủy điện, thủy lợi, làm gia tăng tình trạng ô nhiễm nguồn nước, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động bình thường của các sông, hồ chứa. Vai trò điều hòa, điều tiết nước của các hồ chứa còn hạn chế, một số nơi không đảm bảo dòng chảy cho nhu cầu dùng nước đa dạng ở hạ du công trình. Công tác tổ chức, điều hành khai thác nhiều hồ còn nặng tính đơn ngành, đơn mục tiêu, chưa quan tâm đầy đủ đến lợi ích tập thể…

Để quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước liên quan đến các công trình thủy điện, ngành điện, các chủ đầu tư dự án công trình thủy điện cần phải thực hiện nghiêm Nghị định số 120/2008/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý lưu vực sông. Các ngành, đơn vị, chính quyền địa phương cần có cơ chế phối hợp đồng bộ ngay từ khi xây dựng phê duyệt quy hoạch, đầu tư phát triển của các ngành có liên quan trực tiếp đến khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước. Có như vậy, mới lập lại được trật tự trong quản lý, khai thác các lưu vực sông, hồ chứa thủy điện, quản lý, bảo vệ bền vững tài nguyên nước.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.