Quản lý chất thải y tế: Vấn đề không của riêng ai
Những tác động của chất thải y tế đối với môi trường
Nếu chất thải rắn bệnh viện được biết đến như là chất thải có chứa nhiều yếu tố độc hại, nguy hiểm cho môi trường, có thể phát sinh, lây lan dịch bệnh ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng thì nước thải bệnh viện còn có nguy cơ cao hơn nhiều so với chất thải rắn bệnh viện.
Nước thải bệnh viện nói chung đều chứa các thành phần nguy hại, một khi không được xử lý, xả ra môi trường có nguy cơ ô nhiễm rất cao, phạm vi phát tán các chất gây ô nhiễm rộng. Dòng chảy ô nhiễm có thể tải các thành phần ô nhiễm đi rất xa thông qua hệ thống kênh dẫn. Trong quá trình dẫn chảy, chất thải lỏng có thể gây ô nhiễm môi trường đất, môi trường không khí xung quanh dọc theo hệ thống dẫn chảy. Với kênh dẫn, sông ngòi tiêu thoát nước thải, tình trạng ô nhiễm ngày càng trầm trọng là do các chất dinh dưỡng của ni-tơ, phốt-pho gây ra hiện tượng phú dưỡng (thừa dinh dưỡng) nguồn tiếp nhận dòng thải, ảnh hưởng tới sinh vật sống trong môi trường thủy sinh. Các chất rắn lơ lửng gây ra độ đục của nước, tạo sự lắng đọng cặn làm tắc nghẽn cống và đường ống, máng dẫn, quá trình dẫn chảy gây tích tụ các thành phần ô nhiễm, khả năng tự làm sạch bị hạn chế do quá trình nạo vét, khơi thông dòng chảy và do nồng độ các loại hoá chất tẩy rửa cao, hạn chế khả năng hoạt động của vi sinh vật...
Các thành phần chính gây ô nhiễm môi trường do nước thải bệnh viện gây ra chủ yếu là các chất hữu cơ, các chất dinh dưỡng của ni-tơ, phốt- pho, các chất rắn lơ lửng và các vi trùng, vi khuẩn gây bệnh. Nước thải bệnh viện rất nguy hiểm vì chúng là nguồn chứa vô số loại vi trùng, virus và các mầm bệnh sinh học khác trong máu mủ, dịch, đờm, phân của người bệnh, các loại hóa chất độc hại từ cơ thể và chế phẩm điều trị, thậm chí cả chất phóng xạ. Do đó, nó được xếp vào danh mục chất thải nguy hại. Theo kết quả phân tích của cơ quan chuyên môn, nước thải bệnh viện ô nhiễm nặng về mặt hữu cơ và vi sinh, hàm lượng vi sinh cao gấp 100- 1.000 tiêu chuẩn cho phép, với nhiều loại vi khuẩn như Salmonella, tụ cầu, liên cầu virus đường tiêu hoá, bại liệt, các loại ký sinh trùng, amip, nấm. Hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp 2 - 3 lần tiêu chuẩn cho phép. Nước thải bệnh viện nếu không được xử lý, sau khi hòa vào hệ thống thoát nước chung, những mầm bệnh này "chu du" khắp nơi, xâm nhập vào các loại thủy sản, vật nuôi, cây trồng, nhất là rau thủy canh và trở lại với con người. Việc tiếp xúc gần với nguồn ô nhiễm còn làm tăng nguy cơ ung thư và các bệnh hiểm nghèo khác cho người dân.
Ngoài chất thải rắn, chất lỏng kể trên, tại một số bệnh viện có lò đốt chất thải rắn còn phát sinh khí thải từ quá trình vận hành lò đốt. Đối với bệnh viện lớn tại các thành phố, do lượng chất thải rắn phát sinh hàng ngày khá lớn lò đốt phải vận hành thường xuyên, nên vấn đề vận hành lò đốt chất thải y tế cũng cần được quan tâm, do khí thải trong quá trình đốt có thể gây ô nhiễm môi trường, khí thải độc hại có mùi đặc trưng ảnh hưởng đến khu vực dân cư sống gần khu vực có lò đốt chất thải y tế. Tuy nhiên, theo quy định hiện hành, chất thải nguy hại mới chỉ được xác định ở dạng rắn, lỏng và bùn của các chất thải trong danh mục, các phát thải dạng khí chưa được xác định trong danh mục và chưa quy định phải xử lý theo quy chế quản lý chất thải nguy hại.
Quy định của pháp luật về quản lý chất thải y tế
Để quản lý tốt chất thải y tế từ khâu phát sinh đến khu xử lý cuối cùng, từ năm 1999, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quy chế quản lý chất thải nguy hại nói chung, trong đó có nội dung liên quan đến quản lý chất thải y tế Theo đó, các chất thải phòng khám và liên quan; các chất thải phát sinh từ các cơ sở khám, chữa bệnh, trong quá trình nghiên cứu hoặc chữa chạy cho bệnh nhân. Các phát thải này có chứa thành phần nguy hại cần phải được xử lý theo quy chế quản lý chất thải nguy hại.
Trên cơ sở Quy chế này, Bộ Y tế đã ban hành quy chế quản lý chất thải y tế kèm theo Quyết định số 2575/1999/OĐ - BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế. Đây là văn bản pháp lý cụ thể hoá công tác quản lý, xử lý chất thải y tế từ việc thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý chất thải y tế. Quy chế cũng quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu các cơ sở y tế, viện nghiên cứu là người chịu trách nhiệm trong việc quản lý chất thải y tế nguy hại từ khâu phát sinh đến khâu tiêu huỷ cuối cùng.
Sau khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 có hiệu lực thi hành, để đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý chất thải nguy hại, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành quy chế quản lý chất thải nguy hại kèm theo Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT và hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ đăng ký cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại kèm theo Thông tư 12/2006/TT BTNMT.
Như vậy, kể từ năm 1999 đến nay công tác quản lý nhà nước về chất thải nguy hại nói chung và quản lý chất thải y tế nói riêng đã từng bước được cụ thể hoá bằng việc ban hành các quy định về quản lý chất thải nguy hại. Trong đó, quy định rõ trách nhiệm của cơ sở phát sinh chất thải nguy hại phải đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại tại Sở TN & MT, chất thải nguy hại phải được phân loại, quản lý và lưu giữ ở khu vực có mái che, có hàng rào bảo vệ, phải có cửa và có khoá. Chất thải y tế trong quá trình lưu giữ và khi vận chuyển có hồ sơ theo dõi chủng loại và số lượng nhập, xuất kho để vận chuyển đến nơi tiêu huỷ. Quy chế quản lý chất thải nguy hại cũng quy định, chất thải nguy hại chỉ được chuyển giao cho tổ chức cá nhân có giấy phép quản lý chất thải nguy hại để xử lý. Việc quy định này đã khép kín công tác quản lý chất thải nguy hại từ khâu phát sinh, vận chuyển đến khâu xử lý cuối cùng.
Một số giải pháp quản lý tốt chất thải y tế
Thứ nhất, tăng cường kiểm tra, giám sát tuân thủ quy chế quản lý chất thải y tế và quy chế quản lý chất thải nguy hại của các cơ sở khám chữa bệnh. Lâu nay, tại các cơ sở khám chữa bệnh, công tác thu gom, phân loại chất thải y tế tại nguồn nhìn chung được thực hiện khá nghiêm túc, nhiều bệnh viện có bộ phận chuyên trách quản lý chất thải, chất thải được theo dõi chặt chẽ và chuyển về vị trí tập kết trước khi chuyển đi xử lý. Việc yêu cầu các cơ sở khám chữa bệnh hoàn thiện các thủ tục hồ sơ liên quan đến quản lý chất thải nguy hại y tế theo quy chế quản lý chất thải nguy hại là nội dung hết sức quan trọng để tiến tới quản lý chặt chẽ các loại chất thải rắn y tế, hạn chế chất thải y tế nguy hại bị tuồn ra môi trường không qua xử lý.
Thứ hai, cần xem xét đến việc tái chế một số loại chất thải y tế. Hiện nay pháp luật về bảo vệ môi trường không cấm việc tái chế chất thải nguy hại (kể cả chất thải y tế nguy hại) điều này được thể hiện rất rõ trong Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT của Bộ TN & MT. Chất thải rắn y tế có nhiều loại không có thành phần nguy hại hoặc có nhưng có thể được làm sạch bằng khử trùng, tiệt khuẩn để trở thành không nguy hại. Theo phân tích của cơ quan chuyên môn, có đến 85 % chất thải rắn y tế có thể tái chế, việc xem xét để tái chế một phần rác thải y tế vừa tiết kiệm chi phí để xử lý, vừa giảm được áp lực phải xử lý một lượng lớn chất thải y tế theo quy chế quản lý chất thải nguy hại. Vấn đề đặt ra hiện nay là phải có quy trình tái chế chất thải y tế được cơ quan có thẩm quyền thẩm định và phê duyệt, đồng thời phải quy định cụ thể danh mục chất thải nào được tái chế... nghĩa là phải tạo ra hành lang pháp lý cần thiết cho hoạt động tái chế chất thải y
Thứ ba, đẩy mạnh xã hội hoá công tác xử lý chất thải y tế. Chất thải từ các bệnh viện, đặc biệt là nước thải và chất thải rắn nếu không được xử lý trước khi thải ra môi trường sẽ rất nguy hại cho sức khoẻ cộng đồng và môi trường tiếp nhận.
Theo mục tiêu của ngành y tế đưa ra thì đến năm 2010 ngành y tế dự kiến đầu tư 10 tỷ đồng cho hoạt động xử lý chất thải y tế tại các bệnh viện. Con số đó quả là quá nhỏ nhoi so với yêu cầu xử lý chất thải y tế hiện nay, do vậy cần phải huy động đến mức cao nhất sự tham gia của xã hội vào việc xử lý chất thải tại các bệnh viện.
Thứ tư, tăng cường tuyên truyền phổ biến cho nhân dân nhận thức được nguy cơ tiềm ẩn của các loại chất thải y tế đối với sức khoẻ cộng đồng nếu không được xử lý. Qua việc bán chất thải không qua xử lý thời gian qua, có thể thấy, các tổ chức, cá nhân tham gia mua bán, vận chuyển và tái chế chất thải y tế nguy hại chưa nhận thức được đầy đủ nguy cơ tiềm ẩn của chất thải y tế nguy hại đối với sức khoẻ cộng đồng. Ngay trong đội ngũ bác sĩ của các bệnh viện có phát hiện vi phạm cũng cho rằng việc tái chế chất thải bệnh viện (các loại ống và dây nhựa) đã được khử trùng, tiệt khuẩn là không nguy hại, một số bệnh viện còn có dấu hiệu để tổ chức công đoàn đứng ra "bán" chất thải y tế và số tiền thu được nộp vào quỹ công đoàn của bệnh viện . . . Đối với những người dân tham gia mua bán, vận chuyển và tái chế chất thải y tế chưa nhận thức được tác động đến sức khoẻ cộng đồng và môi trường do mình gây ra nên có tình trạng vận chuyển trong bao bì, xay và rửa chất thải y tế hết sức thủ công. Chỉ sau khi sự việc trên được lực lượng cảnh sát môi trường phát hiện và công khai thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, khiến dư luận và nhân dân hết sức lo ngại và bất bình, mọi người mới bắt đầu quan tâm đến vấn đề xử lý chất thải bệnh viện và nguy cơ ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng. Từ thực tế nêu trên, vấn đề đặt ra là phải tăng cường tuyên truyền, phổ biến cho mọi người hiểu, không tham gia mua bán, vận chuyển, đồng thời phát hiện việc mua bán vận chuyển chất thải y tế nguy hại để báo cho cơ quan chức năng kịp thời xử lý, ngăn chặn.
Việc xử lý tốt chất thải y tế góp phần hạn chế nguy cơ tiềm ẩn phát sinh dịch bệnh ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng, có thể giảm thiểu chi phí xử lý và nâng cao chất lượng xứ lý chất thải y tế. Để đạt được điều này, cần thiết phải có sự chung tay của Nhà nước, các nhà khoa học, của các cơ quan chức năng, của cộng đồng dân cư mà hơn ai hết chính là sự chỉ đạo quyết liệt của Bộ Y tế trong việc tăng cường giám sát việc quản lý, xử lý chất thải bệnh viện theo Quy chế quản lý chất thải y tế ban hành kèm theo Quyết định số 2575/1999/QĐ-BYT và các quy định của pháp luật về quản lý chất thải nguy hại. Ngành y tế cần thường xuyên giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm đối với sức khoẻ cộng đồng của lãnh đạo, cán bộ, công nhân viên đang công tác tại các cơ sở y tế, tránh tình trạng vì một chút lợi nhỏ mà gây hậu quả khôn lường cho cộng đồng và xã hội, đi ngược với mục tiêu cao cả của ngành y tế trong hoạt động khám bệnh và chữa bệnh.








