Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 11/11/2010 18:24 (GMT+7)

Quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen ở Việt Nam

Tóm tắt

Công nghệ sinh học được coi là công nghệ trọng điểm của thế kỷ 21 với nhiều ứng dụng trên nhiều mặt của đời sống xã hội từ bảo vệ môi trường, nông nghiệp, y tế, dược phẩm… Mặc dù có rất nhiều tiềm năng, công nghệ sinh học đặc biệt là công nghệ sinh học hiện đại phải được phát triển và sử dụng một cách an toàn. Là quốc gia đang phát triển, một mặt, Việt Nam khẳng định công nghệ sinh học là một trong bốn công nghệ trọng điểm trong hiện đại hoá và công nghiệp hoá đất nước. Mặt khác, Việt Nam cũng nhận thức được rủi ro tiềm ẩn của công nghệ sinh học hiện đại cũng như tầm quan trọng của quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen. Tuy nhiên, quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen là lĩnh vực tương đối mới nên Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn kiện toàn thể chế, chính sách, pháp lý trong quản lý an toàn sinh học.

Đặt vấn đề

Nhận thức được tầm quan trọng của việc quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen, một thành tựu của công nghệ sinh học hiện đại, ngày 11 tháng 09 năm 2003, Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học có hiệu lực. Đây là nỗ lực của cộng đồng quốc tế nhằm bảo vệ sức khoẻ con người, môi trường và đa dạng sinh học, tránh các rủi ro tiềm ẩn gây ra bởi công nghệ sinh học hiện đại.

Là quốc gia đang phát triển, một mặt, Việt Nam khẳng định công nghệ sinh học là một trong bốn công nghệ trọng điểm trong hiện đại hoá và công nghiệp hoá đất nước. Mặt khác, Việt Nam cũng nhận thức được rủi ro tiềm ẩn của công nghệ sinh học hiện đại cũng như tầm quan trọng của quản lý rủi ro.

Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, Việt Nam rất chú trọng tới các chính sách tạo điều kiện cho sự phát triển của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ sinh học. Công nghệ sinh học ở Việt Nam đã sớm được xác định là một trong bốn hướng công nghệ cần ưu tiên phát triển phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Giữa những năm 1990, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 18/CP về phát triển công nghệ sinh học ở Việt Nam đến năm 2010. Ngày 31 tháng 12 năm 2003; Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 272/2003/QĐ-TTg ban hành chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam đến năm 2010. Gần đây, ngày 4 tháng 3 năm 2005, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 50-CT/TW về việc: đẩy mạnh phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Ngày 22 tháng 7 năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 188/2005/QĐ-TTg về việc ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Chỉ thị số 50-CT/TW, trong đó chỉ rõ: “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học”. Đây là những văn bản pháp lý có tính định hướng chủ đạo cho sự phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học ở nước ta.

Song song với chính sách ưu tiên phát triển công nghệ sinh học, Chính phủ cũng đã xác định rõ tầm quan trọng của việc quản lý an toàn sinh học. Ngày 19 tháng 1 năm 2004, Việt Namđã chính thức gia nhập Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học. Cùng với sự gia nhập này, rất nhiều hành động khác đã được triển khai nhằm thúc đẩy công tác quản lý an toàn sinh học ở nước ta. Ngày 26 tháng 8 năm 2005, quy chế quản lý an toàn sinh học đối với các sinh vật biến đổi gen; sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành kèm theo Quyết định số 212/2005/QĐ-TTg. Gần đây, ngày 31 tháng 5 năm 2007, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quýet định số 79/2007/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 thực hiện công ước đa dạng sinh học và Nghị định thư Cartagena về An toàn sinh học”. Đặc biệt, Luật đa dạng sinh học (có 4 điều quy định về quản lý an toàn sinh học) đã được Quốc hội thông qua vào tháng 11 năm 2008, được coi là văn bản pháp lý cao nhất có quy định nội dung quản lý an toàn sinh học.

Nhìn chung, đường lối và chủ trương chủ đạo của Việt Nam đối với vấn đề phát triển công nghệ sinh học và quản lý an toàn sinh học là thúc đẩy phát triển công nghệ sinh học, tăng cường ứng dụng các nghiên cứu về công nghệ sinh học vào nhiều mặt của đời sống xã hội, tăng cường vai trò của công nghệ sinh học đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Sự phát triển của công nghệ sinh học phải đi đôi với sự đảm bảo an toàn đối với sức khoẻ con người và môi trường.

Hệ thống pháp lý trong quản lý an toàn sinh học

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và bảo đảm an toàn, bao gồm bảo vệ sức khoẻ nhân dân, môi trường và đa dạng sinh học, các hoạt động kiểm dịch thực vật, quản lý thuốc bảo vệ thực vật, kiểm dịch động vật hay công tác thú y, kiểm dịch y tế biên giới, vệ sinh an toàn thực phẩm, an toàn trong sử dụng thuốc y tế, đã được ban hành trong thời gian qua là tương đối đầy đủ, bao quát hầu khắp các lĩnh vực và đối tượng cần điều chỉnh.

Việc quản lý GMO và sản phẩm của chúng đã bắt đầu nhận được sự quan tâm của Chính phủ thể hiện ở sự ra đời của một loạt các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

Ngày 26 tháng 08 năm 2005, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định 212/2005/QĐ-TTg ban hành Quy chế quản lý an toàn sinh học đối với các sinh vật biến đổi gen; sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen. Đây là văn bản có tính pháp lý đầu tiên quy định khá toàn diện các nội dung cơ bản của quản lý an toàn sinh học đối với GMOs, sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ GMOs. Quy chế bao gồm những điều khoản quy định việc nghiên cứu, khảo nghiệm, sản xuất, kinh doanh, sử dụng, nhập khẩu, xuất khẩu, lưu giữ và vận chuyển. Cũng theo Quy chế này, tất cả GMOs, sản phẩm hàng hoá có nguồn gốc từ GMOs trước khi đi vào sản xuất, kinh doanh, sử dụng và lưu thông cần phải được cấp giấy chứng nhận an toàn sinh học và có các biện pháp đánh giá và quản lý rủi ro một cách triệt để. Quy chế này cùng với Nghị định thư Cartagenavề an toàn sinh học mà Việt Nam gia nhập năm 2004, hiện nay là cơ sở pháp lý cho các hoạt động liên quan đến GMOs ở nước ta. Tuy nhiên, Quyết định 212/2005/QĐ-TTg qua một thời gian triển khai đã bộc lộ nhiều bất cập và đến nay, các Bộ chưa ban hành được hướng dẫn thực thi Quyết định này.

Cũng trong năm 2005, Quốc hội đã thông qua Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi, trong đó có một điều khoản về quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen. Điều 87 của Luật này quy định về vấn đề an toàn sinh học: “1. Tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ về sinh vật biến đổi gen và sản phẩm của chúng phải tuân thủ các quy định của pháp luật về đa dạng sinh học, vệ sinh an toàn thực phẩm, giống cây trồng, vật nuôi và các quy định khác của pháp luật có liên quan. 2. Tổ chức, cá nhân chỉ được phép tiến hành hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm, sản xuất, kinh doanh, sử dụng, nhập khẩu, xuất khẩu, lưu giữ; vận chuyển sinh vật biến đổi gen và sản phẩm của chúng thuộc danh mục được pháp luật cho phép và phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện về an toàn sinh học và thủ tục theo quy định của pháp luật. 3. Động vật, thực vật, vi sinh vật nhập nội và quá cảnh phải được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép và phải được kiểm dịch theo quy định của pháp luật về kiểm dịch động vật, thực vật và vi sinh vật”. Tuy nhiên, tính đến nay, chưa có văn bản dưới luật nào hướng dẫn cụ thể hơn việc thực thi nội dung của Điều 87.

Ngày 13 tháng 11 năm 2008 Quốc hội đã thông qua Luật Đa dạng sinh học, trong Luật này có một mục gồm 04 điều đánh giá rủi ro do sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen gây ra đối với đa dạng sinh học. Những nội dung quy định đã được đề cập đến trong mục này gồm: Trách nhiệm quản lý rủi ro do sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen gây ra đối với đa dạng sinh học (Điều 65): trong đó giao cho Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm đối với hoạt động nghiên ứu sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen; còn việc quản lý rủi ro do sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen gây ra đối với đa dạng sinh học sẽ do Chính phủ quy định cụ thể; Lập, thẩm định báo cáo đánh giá rủi ro do sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen gây ra đối với đa dạng sinh học; cấp giấy chứng nhận an toàn của sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen đối với đa dạng sinh học (Điều 66); Công khai thông tin về mức độ rủi ro và biện pháp quản lý rủi ro do sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen gây ra đối với đa dạng sinh học (Điều 67); Quản lý cơ sở dữ liệu về sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen liên quan đến đa dạng sinh học (Điều 68). Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang chủ trì xây dựng Dự thảo Nghị định quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen nhằm hướng dẫn chi tiết hơn việc thực thi nội dung này của Luật Đa dạng sinh học.

Ngoài những văn bản kể trên, nội dung quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen, sản phẩm của sinh vật biến đổi gen cũng được thể hiện trong một số văn bản của Quốc hội, Chính phủ cũng như của các Bộ, ngành. Trong số này phải kể đến Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm (2003); Pháp lệnh Giống cây trồng (2004), Pháp lệnh Giống Vật nuôi (2004)…

Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm chưa quy định cụ thể về thực phẩm có nguồn gốc từ GMOs. Điều 20 của Pháp lệnh này có quy định: “1. Thực phẩm có gen đã bị biến đổi hoặc nguyên liệu thực phẩm có gen đã bị biến đổi phải ghi trên nhãn bằng tiếng Việt là “thực phẩm có gen đã bị biến đổi”. 2. Chính phủ quy định cụ thể việc quản lý và sử dụng thực phẩm có gen đã bị biến đổi”. Theo đó, Quyết định 178/1999/QĐ-TTg về Quy chế Ghi nhãn hàng hoá lưu thông trong nước và hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đã được ban hành. Tuy nhiên, Quyết định này không hướng dẫn chi tiết việc thực thi điều khoản về dán nhãn thực phẩm có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen.

Pháp lệnh giống vật nuôi và Pháp lệnh giống cây trồng đã đề cập trực tiếp đến giống vật nuôi và giống cây trồng có gen bị biến đổi. Trong đó, quy định việc nghiên cứu, chọn, tạo, thử nghiệm, sản xuất, kinh doanh, sử dụng, trao đổi quốc tế và các hoạt động khác đối với giống vật nuôi và giống cây trồng có gen đã bị biến đổi được thực hiện theo quy định của Chính phủ. Tuy nhiên, Chính phủ chưa có hướng dẫn cụ thể nhằm thực thi nội dung quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen trong hai Pháp lệnh nói trên.

Nhìn chung, việc quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, các văn bản mới quy định rất chung chung và văn bản duy nhất 4 quy định chi tiết là Quyết định 212/2005/QĐ-TTg có nhiều bất cập khó triển khai. Trong thời gian tới, một loạt các văn bản sẽ được ban hành nhằm đảm bảo tính khả thi trong quản lý an toàn sinh học đối với các sinh vật biến đổi gen. Những Văn bản này bao gồm:

Nghị định quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen, sản phẩm của sinh vật biến đổi gen do Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì xây dựng dự kiến trình Chính phủ vào tháng 10 năm 2009.

Dự thảo Thông tư hướng dẫn quản lý an toàn sinh học trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sinh vật biến đổi gen do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì xây dựng;

Thông tư hướng dẫn quản lý an toàn các phòng thí nghiệm nghiên cứu và phát triển công nghệ sinh vật biến đổi gen do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì xây dựng;

Thông tư hướng dẫn quản lý an toàn sinh học và sinh vật biến đổi gen do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì xây dựng;

Quy định quản lý an toàn sinh học trong khảo nghiệm cây trồng biến đổi gen do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì xây dựng.

Quản lý nhà nước về an toàn sinh học

Theo quy định đây là nhiệm vụ của các Bộ Tài nguyên và Môi trường, Khoa học và Công nghệ, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công thương và Y tế:

Các nhiệm vụ quản lý nhà nước về an toàn sinh học được đề cập trong Quyết định 212/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 26/8/2005 bao gồm:

1. Xây dựng, ban hành chiến lược, cơ chế, chính sách, kế hoạch và các văn bản quy phạp pháp luật về an toàn sinh học đối với các sinh vật biến đổi gen; sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen;

2. Xây dựng và phát triển hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về an toàn sinh học đối với các sinh vật biến đổi gen; sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen;

3. Thảm định việc đăng ký khảo nghiệm, phóng thích, sản xuất, kinh doanh, sử dụng, xuất khẩu, nhập khẩu, lưu giữ, vận chuyển các sinh vật biến đổi gen; sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen; cấp, thu hồi giấy chứng nhận, giấy phép có liên quan tới an toàn sinh học của các đối tượng trên;

4. Đào tạo, tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức cho tổ chức, cá nhân về an toàn sinh học đối với các sinh vật biến đổi gen; sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen;

5. Hợp tác quốc tế, tham gia thực hiện các điều ước quốc tế có liên quan đến các sinh vật biến đổi gen; sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen.

6. Thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ và thực hiện các quy định của pháp luật về an toàn sinh học đối với các sinh vật biến đổi gen; sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Góp ý Luật luật An toàn, vệ sinh lao động: Lấy bảo vệ con người và quản trị rủi ro làm trung tâm
Ngày 30/10/2026, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn Vệ sinh Lao động Việt Nam (VOSHA) tổ chức Hội thảo "Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động". Hội thảo do PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch VUSTA và GS.TS Lê Vân Trình, Chủ tịch VOSHA đồng chủ trì.
VUSTA công bố các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt
Ngày 30/10/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trang trọng tổ chức Hội nghị công bố các quyết định quan trọng về công tác cán bộ. Lãnh đạo VUSTA đã trao quyết định nghỉ hưu hưởng chế độ cho 02 cán bộ, chuyên viên, đồng thời trao các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng “Vì người nghèo”
Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.
Thủ tướng mong muốn đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng kiến tạo chuỗi giá trị mới
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và kiến tạo những chuỗi giá trị mới.
Tạo động lực tăng trưởng xanh từ khoa học, công nghệ
Chính phủ Việt Nam nhiều lần khẳng định quan điểm "không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế". Trong bối cảnh đó, việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu tăng trưởng nhanh và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các giải pháp khoa học, công nghệ đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Hội nghị Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ nhất (khóa IX)
Chiều 28/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ nhất (khóa IX), nhiệm kỳ 2026 - 2031. Hội nghị tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản nền tảng quan trọng, đánh giá kết quả hoạt động từ sau Đại hội IX, đồng thời đề ra nhiệm vụ trọng tâm đến cuối năm 2026.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 10/2026: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm
Sáng 28/10, tại Hà Nội, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 10, xác định nhiệm vụ trọng tâm tháng 11/2026 và triển khai một số nội dung quan trọng liên quan đến công tác xây dựng Đảng.
GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.