Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 11/11/2010 18:24 (GMT+7)

Quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen ở Việt Nam

Tóm tắt

Công nghệ sinh học được coi là công nghệ trọng điểm của thế kỷ 21 với nhiều ứng dụng trên nhiều mặt của đời sống xã hội từ bảo vệ môi trường, nông nghiệp, y tế, dược phẩm… Mặc dù có rất nhiều tiềm năng, công nghệ sinh học đặc biệt là công nghệ sinh học hiện đại phải được phát triển và sử dụng một cách an toàn. Là quốc gia đang phát triển, một mặt, Việt Nam khẳng định công nghệ sinh học là một trong bốn công nghệ trọng điểm trong hiện đại hoá và công nghiệp hoá đất nước. Mặt khác, Việt Nam cũng nhận thức được rủi ro tiềm ẩn của công nghệ sinh học hiện đại cũng như tầm quan trọng của quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen. Tuy nhiên, quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen là lĩnh vực tương đối mới nên Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn kiện toàn thể chế, chính sách, pháp lý trong quản lý an toàn sinh học.

Đặt vấn đề

Nhận thức được tầm quan trọng của việc quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen, một thành tựu của công nghệ sinh học hiện đại, ngày 11 tháng 09 năm 2003, Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học có hiệu lực. Đây là nỗ lực của cộng đồng quốc tế nhằm bảo vệ sức khoẻ con người, môi trường và đa dạng sinh học, tránh các rủi ro tiềm ẩn gây ra bởi công nghệ sinh học hiện đại.

Là quốc gia đang phát triển, một mặt, Việt Nam khẳng định công nghệ sinh học là một trong bốn công nghệ trọng điểm trong hiện đại hoá và công nghiệp hoá đất nước. Mặt khác, Việt Nam cũng nhận thức được rủi ro tiềm ẩn của công nghệ sinh học hiện đại cũng như tầm quan trọng của quản lý rủi ro.

Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, Việt Nam rất chú trọng tới các chính sách tạo điều kiện cho sự phát triển của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ sinh học. Công nghệ sinh học ở Việt Nam đã sớm được xác định là một trong bốn hướng công nghệ cần ưu tiên phát triển phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Giữa những năm 1990, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 18/CP về phát triển công nghệ sinh học ở Việt Nam đến năm 2010. Ngày 31 tháng 12 năm 2003; Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 272/2003/QĐ-TTg ban hành chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam đến năm 2010. Gần đây, ngày 4 tháng 3 năm 2005, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 50-CT/TW về việc: đẩy mạnh phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Ngày 22 tháng 7 năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 188/2005/QĐ-TTg về việc ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Chỉ thị số 50-CT/TW, trong đó chỉ rõ: “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học”. Đây là những văn bản pháp lý có tính định hướng chủ đạo cho sự phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học ở nước ta.

Song song với chính sách ưu tiên phát triển công nghệ sinh học, Chính phủ cũng đã xác định rõ tầm quan trọng của việc quản lý an toàn sinh học. Ngày 19 tháng 1 năm 2004, Việt Namđã chính thức gia nhập Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học. Cùng với sự gia nhập này, rất nhiều hành động khác đã được triển khai nhằm thúc đẩy công tác quản lý an toàn sinh học ở nước ta. Ngày 26 tháng 8 năm 2005, quy chế quản lý an toàn sinh học đối với các sinh vật biến đổi gen; sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành kèm theo Quyết định số 212/2005/QĐ-TTg. Gần đây, ngày 31 tháng 5 năm 2007, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quýet định số 79/2007/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 thực hiện công ước đa dạng sinh học và Nghị định thư Cartagena về An toàn sinh học”. Đặc biệt, Luật đa dạng sinh học (có 4 điều quy định về quản lý an toàn sinh học) đã được Quốc hội thông qua vào tháng 11 năm 2008, được coi là văn bản pháp lý cao nhất có quy định nội dung quản lý an toàn sinh học.

Nhìn chung, đường lối và chủ trương chủ đạo của Việt Nam đối với vấn đề phát triển công nghệ sinh học và quản lý an toàn sinh học là thúc đẩy phát triển công nghệ sinh học, tăng cường ứng dụng các nghiên cứu về công nghệ sinh học vào nhiều mặt của đời sống xã hội, tăng cường vai trò của công nghệ sinh học đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Sự phát triển của công nghệ sinh học phải đi đôi với sự đảm bảo an toàn đối với sức khoẻ con người và môi trường.

Hệ thống pháp lý trong quản lý an toàn sinh học

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và bảo đảm an toàn, bao gồm bảo vệ sức khoẻ nhân dân, môi trường và đa dạng sinh học, các hoạt động kiểm dịch thực vật, quản lý thuốc bảo vệ thực vật, kiểm dịch động vật hay công tác thú y, kiểm dịch y tế biên giới, vệ sinh an toàn thực phẩm, an toàn trong sử dụng thuốc y tế, đã được ban hành trong thời gian qua là tương đối đầy đủ, bao quát hầu khắp các lĩnh vực và đối tượng cần điều chỉnh.

Việc quản lý GMO và sản phẩm của chúng đã bắt đầu nhận được sự quan tâm của Chính phủ thể hiện ở sự ra đời của một loạt các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

Ngày 26 tháng 08 năm 2005, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định 212/2005/QĐ-TTg ban hành Quy chế quản lý an toàn sinh học đối với các sinh vật biến đổi gen; sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen. Đây là văn bản có tính pháp lý đầu tiên quy định khá toàn diện các nội dung cơ bản của quản lý an toàn sinh học đối với GMOs, sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ GMOs. Quy chế bao gồm những điều khoản quy định việc nghiên cứu, khảo nghiệm, sản xuất, kinh doanh, sử dụng, nhập khẩu, xuất khẩu, lưu giữ và vận chuyển. Cũng theo Quy chế này, tất cả GMOs, sản phẩm hàng hoá có nguồn gốc từ GMOs trước khi đi vào sản xuất, kinh doanh, sử dụng và lưu thông cần phải được cấp giấy chứng nhận an toàn sinh học và có các biện pháp đánh giá và quản lý rủi ro một cách triệt để. Quy chế này cùng với Nghị định thư Cartagenavề an toàn sinh học mà Việt Nam gia nhập năm 2004, hiện nay là cơ sở pháp lý cho các hoạt động liên quan đến GMOs ở nước ta. Tuy nhiên, Quyết định 212/2005/QĐ-TTg qua một thời gian triển khai đã bộc lộ nhiều bất cập và đến nay, các Bộ chưa ban hành được hướng dẫn thực thi Quyết định này.

Cũng trong năm 2005, Quốc hội đã thông qua Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi, trong đó có một điều khoản về quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen. Điều 87 của Luật này quy định về vấn đề an toàn sinh học: “1. Tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ về sinh vật biến đổi gen và sản phẩm của chúng phải tuân thủ các quy định của pháp luật về đa dạng sinh học, vệ sinh an toàn thực phẩm, giống cây trồng, vật nuôi và các quy định khác của pháp luật có liên quan. 2. Tổ chức, cá nhân chỉ được phép tiến hành hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm, sản xuất, kinh doanh, sử dụng, nhập khẩu, xuất khẩu, lưu giữ; vận chuyển sinh vật biến đổi gen và sản phẩm của chúng thuộc danh mục được pháp luật cho phép và phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện về an toàn sinh học và thủ tục theo quy định của pháp luật. 3. Động vật, thực vật, vi sinh vật nhập nội và quá cảnh phải được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép và phải được kiểm dịch theo quy định của pháp luật về kiểm dịch động vật, thực vật và vi sinh vật”. Tuy nhiên, tính đến nay, chưa có văn bản dưới luật nào hướng dẫn cụ thể hơn việc thực thi nội dung của Điều 87.

Ngày 13 tháng 11 năm 2008 Quốc hội đã thông qua Luật Đa dạng sinh học, trong Luật này có một mục gồm 04 điều đánh giá rủi ro do sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen gây ra đối với đa dạng sinh học. Những nội dung quy định đã được đề cập đến trong mục này gồm: Trách nhiệm quản lý rủi ro do sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen gây ra đối với đa dạng sinh học (Điều 65): trong đó giao cho Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm đối với hoạt động nghiên ứu sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen; còn việc quản lý rủi ro do sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen gây ra đối với đa dạng sinh học sẽ do Chính phủ quy định cụ thể; Lập, thẩm định báo cáo đánh giá rủi ro do sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen gây ra đối với đa dạng sinh học; cấp giấy chứng nhận an toàn của sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen đối với đa dạng sinh học (Điều 66); Công khai thông tin về mức độ rủi ro và biện pháp quản lý rủi ro do sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen gây ra đối với đa dạng sinh học (Điều 67); Quản lý cơ sở dữ liệu về sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen liên quan đến đa dạng sinh học (Điều 68). Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang chủ trì xây dựng Dự thảo Nghị định quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen nhằm hướng dẫn chi tiết hơn việc thực thi nội dung này của Luật Đa dạng sinh học.

Ngoài những văn bản kể trên, nội dung quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen, sản phẩm của sinh vật biến đổi gen cũng được thể hiện trong một số văn bản của Quốc hội, Chính phủ cũng như của các Bộ, ngành. Trong số này phải kể đến Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm (2003); Pháp lệnh Giống cây trồng (2004), Pháp lệnh Giống Vật nuôi (2004)…

Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm chưa quy định cụ thể về thực phẩm có nguồn gốc từ GMOs. Điều 20 của Pháp lệnh này có quy định: “1. Thực phẩm có gen đã bị biến đổi hoặc nguyên liệu thực phẩm có gen đã bị biến đổi phải ghi trên nhãn bằng tiếng Việt là “thực phẩm có gen đã bị biến đổi”. 2. Chính phủ quy định cụ thể việc quản lý và sử dụng thực phẩm có gen đã bị biến đổi”. Theo đó, Quyết định 178/1999/QĐ-TTg về Quy chế Ghi nhãn hàng hoá lưu thông trong nước và hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đã được ban hành. Tuy nhiên, Quyết định này không hướng dẫn chi tiết việc thực thi điều khoản về dán nhãn thực phẩm có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen.

Pháp lệnh giống vật nuôi và Pháp lệnh giống cây trồng đã đề cập trực tiếp đến giống vật nuôi và giống cây trồng có gen bị biến đổi. Trong đó, quy định việc nghiên cứu, chọn, tạo, thử nghiệm, sản xuất, kinh doanh, sử dụng, trao đổi quốc tế và các hoạt động khác đối với giống vật nuôi và giống cây trồng có gen đã bị biến đổi được thực hiện theo quy định của Chính phủ. Tuy nhiên, Chính phủ chưa có hướng dẫn cụ thể nhằm thực thi nội dung quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen trong hai Pháp lệnh nói trên.

Nhìn chung, việc quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, các văn bản mới quy định rất chung chung và văn bản duy nhất 4 quy định chi tiết là Quyết định 212/2005/QĐ-TTg có nhiều bất cập khó triển khai. Trong thời gian tới, một loạt các văn bản sẽ được ban hành nhằm đảm bảo tính khả thi trong quản lý an toàn sinh học đối với các sinh vật biến đổi gen. Những Văn bản này bao gồm:

Nghị định quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen, sản phẩm của sinh vật biến đổi gen do Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì xây dựng dự kiến trình Chính phủ vào tháng 10 năm 2009.

Dự thảo Thông tư hướng dẫn quản lý an toàn sinh học trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sinh vật biến đổi gen do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì xây dựng;

Thông tư hướng dẫn quản lý an toàn các phòng thí nghiệm nghiên cứu và phát triển công nghệ sinh vật biến đổi gen do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì xây dựng;

Thông tư hướng dẫn quản lý an toàn sinh học và sinh vật biến đổi gen do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì xây dựng;

Quy định quản lý an toàn sinh học trong khảo nghiệm cây trồng biến đổi gen do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì xây dựng.

Quản lý nhà nước về an toàn sinh học

Theo quy định đây là nhiệm vụ của các Bộ Tài nguyên và Môi trường, Khoa học và Công nghệ, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công thương và Y tế:

Các nhiệm vụ quản lý nhà nước về an toàn sinh học được đề cập trong Quyết định 212/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 26/8/2005 bao gồm:

1. Xây dựng, ban hành chiến lược, cơ chế, chính sách, kế hoạch và các văn bản quy phạp pháp luật về an toàn sinh học đối với các sinh vật biến đổi gen; sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen;

2. Xây dựng và phát triển hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về an toàn sinh học đối với các sinh vật biến đổi gen; sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen;

3. Thảm định việc đăng ký khảo nghiệm, phóng thích, sản xuất, kinh doanh, sử dụng, xuất khẩu, nhập khẩu, lưu giữ, vận chuyển các sinh vật biến đổi gen; sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen; cấp, thu hồi giấy chứng nhận, giấy phép có liên quan tới an toàn sinh học của các đối tượng trên;

4. Đào tạo, tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức cho tổ chức, cá nhân về an toàn sinh học đối với các sinh vật biến đổi gen; sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen;

5. Hợp tác quốc tế, tham gia thực hiện các điều ước quốc tế có liên quan đến các sinh vật biến đổi gen; sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen.

6. Thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ và thực hiện các quy định của pháp luật về an toàn sinh học đối với các sinh vật biến đổi gen; sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW
Sáng 30/6, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ban biên tập vusta.vn trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị.
Một năm chính quyền địa phương hai cấp: Nhìn từ chiều sâu văn hóa làng xã
Một năm thực hiện chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là câu chuyện về tinh gọn bộ máy, tổ chức lại địa giới hành chính màcòn là phép thử về năng lực quản trị những giá trị mềm: tên làng, ký ức cộng đồng, di sản, thiết chế văn hóa, không gian tín ngưỡng và cảm giác thuộc về của người dân.
Hội nghị AFEO Midterm 2026
Ngày 30/6, tại Yangon, Myanmar, Liên đoàn các tổ chức kỹ sư ASEAN (AFEO) chính thức khai mạc phiên toàn thể Hội nghị giữa kỳ lần thứ 25. Đây là diễn đàn thường niên được tổ chức nhằm để các nhà khoa học, các kỹ sư, các chuyên gia cùng chia sẻ, thảo luận các giải pháp trong việc xây dựng một tương lai bền vững cho khu vực ASEAN.
Lào Cai: 118 hộ đồng bào dân tộc thiểu số hưởng lợi từ mô hình cấp nước tự quản
Sau gần một năm triển khai, Dự án “Hỗ trợ nước sinh hoạt cải thiện chất lượng cuộc sống cho cộng đồng dân tộc thiểu số thôn 4, xã Khánh Hòa, tỉnh Lào Cai” do Trung tâm Hỗ trợ phát triển bền vững cộng đồng các dân tộc miền núi (SUDECOM) thực hiện đã hoàn thành mục tiêu, đánh dấu một mô hình điểm về quản lý, vận hành hệ thống cấp nước dựa vào cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống cho 118 hộ dân.
Hải Phòng: Chuyển đổi số toàn diện để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Sáng 26/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố (Liên hiệp hội) Hải Phòng phối hợp với Hội Điện tử và Tin học thành phố, Chi nhánh Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - Chi nhánh Duyên hải Bắc Bộ (VCCI Duyên hải Bắc Bộ) tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề: “Nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp Hải Phòng thông qua chuyển đổi số toàn diện”.