Quả vải
Đó chính là quả vải.
Vải còn có tên Lệ chi, Đan lệ (sách Bản thảo cương mục), Sơn chi, Thiên chi, Đan chi, Nhân chi, Tử chi, Kim chi, Thần chi, Lôi chi, Xích chi, Thập bát nương… (sách Hoà hán Dược khảo). Tên khoa học Litchi chinensis,họ Bồ hòn (Sapindaceae).
Mô tả, nơi sống, thu hái và chế biến
Bộ phận thường dùng làm thuốc là hạt Vải, còn gọi là Lệ chi hạch. Thường chọn thứ hạt to, mập tròn đều và sáng bóng là tốt. Lớp áo bao chung quanh hạt là thịt quả Vải (phần ăn được), ít khi làm thuốc.
Cây mọc nhiều ở Ấn Độ, Trung Quốc. Ở Việt Nam trồng rất nhiều ở miền Bắc, nhất là tỉnh Hưng Yên. Quả vải ở Hưng Yên tròn và có hạt nhỏ, áo hạt dày, ngọt chất lượng nổi tiếng khắp cả nước với tên gọi Vải thiều.
Thu hái hạt vào mùa hạ, rửa sạch, thái nhỏ, tẩm nước muối sao (tỉ lệ 1 kg hạt Vải dùng 30 g muối), hoặc đem đồ cho chín rồi thái mỏng, phơi hay sấy khô. Một số nơi còn đem đốt tồn tính (đốt trong một khạp đất nhỏ được trét kín bằng bùn).
Chú ý vấn đề bảo quản bằng cách phơi hay sấy cho thật khô, cầm không dính tay và cho vào thùng đậy kín, để dành dùng dần.
Thành phần hóa học, tính vị, quy kinh, tác dụng dược lý
Trong hạt có chứa chấta- (methylenepropyl) - glicin, saponosid và tanin. Lớp áo hạt chứa đường, các aminoacid, sinh tố….
Hạt Vải có vị ngọt hơi đắng, tính ấm, có thể vào được các kinh Can và Thận, có tác dụng hành khí, tán kết, khu hàn, chỉ thống. Áo hạt có vị ngọt hơi chua, tính mát, có tác dụng kiện tỳ, bổ phế.
Thường dùng chữa đau dạ dày, viêm ruột, đau bụng kinh, sưng đau tinh hoàn. Dùng từ 10 - 15g/ ngày dưới dạng thuốc sắc hoặc giã nát cho vào thuốc hoàn, tán.
Thực nghiệm tiêm cho chuột nhắt nhịn đói 24 giờ chấta- (methylenepropyl) - glicin với liều 60 - 400 mg/kg cân nặng thấy đường huyết hạ, lượng glycogen ở gan giảm rõ.
Vài đơn thuốc có hạt vải và áo hạt
- Chữa đau bụng khi hành kinh: Lệ chi hạch (đốt tồn tính) 20g; Hương phụ 40g tán bột. Mỗi lần uống 8g với rượu và nước muối. Uống 2 - 3 lần/ ngày.
- Tinh hoàn sưng đau: hạt Vải, hạt Quýt, Tiểu hồi, Đại hồi, lượng bằng nhau, sao vàng tán bột, uống mỗi ngày 8g với rượu.
- Đau răng: dùng quả Vải để cả vỏ, đốt tồn tính, tán bột xát vào răng.
- Mụn nhọt: dùng áo hạt (Lệ chi nhục) của 5 - 7 quả Vải giã nát với hồ nếp, làm thành cao dán lên mụn nhọt, để hở miệng. Có thể giã nát chung với Ô mai rồi đắp lên mụn nhọt.
- Đau dạ dày: hạt Vải tán bột, mỗi lần dùng 8g với giấm.








