Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 29/11/2010 20:46 (GMT+7)

Phát triển kinh tế thủy sản – mũi nhọn của kinh tế biển Việt Nam

Trong hơn 20 năm đổi mới, ngành Thủy sản đã có bước phát triển vượt bậc, duy trì được nhịp độ tăng trưởng, ổn định cả về số lượng và chất lượng, trở thành ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Thành tựu đạt được của ngành trong hơn 10 năm qua không chỉ góp phần vào tốc độ tăng trưởng GDP cao của quốc gia, tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước, đảm bảo an ninh lương thực, mà còn góp phần chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, nông thôn, tạo ra hàng triệu công ăn việc làm, thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo, cải thiện cuộc sống của cộng đồng cư dân không chỉ vùng nông thôn ven biển, mà cả ở các vùng núi, trung du và Tây Nguyên.

Sự có mặt của hàng ngàn tàu thuyền khai thác hải sản của ngư dân thường xuyên trên biển đã góp phần vào việc giữ gìn an ninh, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Bờ biển Việt Nam có chiều dài 3.260 km, với 112 cửa sông lạch, trung bình cứ 100 km2 diện tích tự nhiên lại có 1 km bờ biển và gần 30 km bờ biển lại có cửa sông lạch. Trong số 63 tỉnh/ thành phố, có 28 tỉnh ven biển, với số dân hơn 44,4 triệu người, chiếm 51,53% tổng dân số cả nước. Vùng biển đặc quyền kinh tế trên 1 triệu km2, gấp hơn 3 lần vùng lãnh thổ trên đất liền. Trong vùng biển có hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có nhiều đảo có cư dân như Vân Đồn, Cát Bà, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc… có nhiều vịnh, vũng, eo ngách, các dòng hải lưu, vừa là ngư trường khai thác hải sản thuận lợi, vừa là nơi có nhiều điều kiện tự nhiên để phát triển nuôi biển và xây dựng các khu căn cứ hậu cần nghề cá. Đây là điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển các ngành kinh tế biển nói chung và phát triển thủy sản nói riêng.

Vùng biển Việt Nam thuộc phạm vi ngư trường Trung tây Thái Bình Dương, có nguồn lợi hải sản phong phú, đa dạng và được đánh giá là một trong những ngư trường có trữ lượng cao trong các vùng biển quốc tế, với hơn 2000 loài, 225 loài tôm, 633 loài tảo, rong biển và nhiều loài hải sản quý như bào ngư, trai ngọc, sò huyết, san hô đỏ… các nghiên cứu, điều tra về nguồn lợi cho biết, trữ lượng nguồn lợi hải sản ước tính khoảng 4 – 4,5 triệu tấn, khả năng khai thác cho phép khoảng 1,8 – 2,0 triệu tấn/ năm. Nghề cá là nghề có truyền thống lâu đời, gần gũi không chỉ với người dân ở vùng nông thôn ven biển, mà cả với cộng đồng dân cư trên đất liền, nơi có nhiều thủy vực tự nhiên nhiều ha như sông ngòi, kênh rạch, hệ thống hồ chứa tự nhiên và hồ chứa nhân tạo. Hệ thống ao đầm nhỏ và ruộng trũng thuận lợi để nuôi trồng thủy sản nước ngọt. Có thể nói, đặc trưng tự nhiên về nguồn lợi biển, sự phong phú về các loại hình mặt nước cả trên biển và đất liền đã cho phép phát triển thủy sản trên các vùng miền khác nhau cả về khai thác, nuôi trồng, chế biến, thương mại thủy sản và tổ chức dịch vụ hậu cần nghề cá. Với lợi thế về điều kiện tự nhiên, từ chỗ chỉ là một nghề phụ trong sản xuất nông nghiệp, sau những năm 1950, đánh giá được vị trí ngày càng đáng kể và sự đóng góp mà nghề cá có thể mang lại cho nền kinh tế quốc dân, Đảng và Nhà nước ta đã bắt đầu quan tâm phát triển nghề cá và hình thành các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực này, đánh dấu một cách nhìn nhận mới đối với ngành Thủy sản.

Thủy sản đã dần hình thành và phát triển như một ngành kinh tế - kỹ thuật có đóng góp ngày càng lớn cho kinh tế quốc dân, đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất trong khối nông dân, lâm nghiệp và thủy sản (4,28% năm 2009, TCTK). Đến nay, Thủy sản Việt Nam đã có vị trí cao trong cộng đồng nghề cá thế giới, đứng thứ 12 về khai thác thủy sản, thứ 3 về nuôi thủy sản và thứ 7 về xuất khẩu thủy sản. Mặt khác, trong thời gian qua, sự phát triển của ngành thủy sản đã đóng góp vào công cuộc giữ gìn an ninh, chủ quyền trên vùng lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của đất nước. Phát triển kinh tế biển nói chung và tăng trưởng kinh tế thủy sản nói riêng đã thu hút lực lượng ngư dân hiện diện thường xuyên trên biển, góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng. Có thể khẳng định, sự hiện diện của ngư dân với hàng ngàn tàu thuyền thường xuyên hoạt động khai thác trên biển đã và đang có vai trò quan trọng thực hiện phát triển kinh tế gắn với nhiệm vụ bảo vệ vùng biển, đảo của tổ quốc.

Những kết quả đạt được của ngành trong quá trình phát triển: Sau thời kỳ sa sút vào cuối những năm 1970, từ đầu những năm 1980, ngành thủy sản đã vận dụng chủ trương của Đảng và Chính phủ trong phát triển kinh tế, xác định nghề cá nhân dân là cơ sở phát triển Thủy sản, lấy tàu thuyền là đơn vị sản xuất và đặc biệt được Nhà nước cho phép áp dụng thử nghiệm một số cơ chế mới gắn sản xuất với thị trường, lấy xuất khẩu làm động lực để thúc đẩy sản xuất phát triển. Ngành Thủy sản vận dụng sáng tạo, có hiệu quả cơ chế này, tạo bước ngoặt cho sự phát triển và tăng trưởng kinh tế thủy sản liên tục hơn 26 năm qua, đặc biệt, hơn 10 năm trở lại đây, ngành Thủy sản liên tục duy trì được tốc độ tăng trưởng ổn định ở mức cao trong cả khai thác, nuôi trồng và xuất khẩu thủy sản. Tổng sản lượng thủy sản năm 2008 đạt 4,58 triệu tấn, tăng 4 lần rưỡi so với năm 1990 và hơn 10 lần so với năm 1980. Năm 2009, có nhiều khó khăn do khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu, thiên tai, lũ lụt và dịch bệnh, ngành Thủy sản vẫn duy trì nhịp độ sản xuất, sản lượng đạt 4,85 triệu tấn, tăng 5,8% so với năm 2008. Giai đoạn 1991 – 2000, tốc độ tăng sản lượng thủy sản trung bình là 7,31%, giai đoạn 2001 – 2009, tốc độ tăng sản lượng thủy sản là 10,20%.

Từ sau chủ trương của Nhà nước cho thực hiện cơ chế mới vào năm 1980, xuất khẩu thủy sản đã có sự tăng trưởng nhanh qua các năm, là động lực thúc đẩy khai thác và nuôi trồng thủy sản phát triển, cung cấp nguồn nguyên liệu với khối lượng lớn và có chất lượng phục vụ xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu vượt qua mức 500 triệu USD năm 1995, năm 2000 vượt ngưỡng 1 tỷ USD, đạt 2 tỷ USD năm 2002, trên 3 tỷ USD năm 2006 và qua mức 4 tỷ USD, đạt 4,53 tỷ USD năm 2008. Năm 2009 ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, xuất khẩu thủy sản có mức tăng trưởng âm nhưng vẫn đạt 4,25 tỷ USD.

Sự phát triển nhanh và ổn định của ngành thủy sản trong nhiều năm qua đã góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân. Tỷ trọng của thủy sản trong khối nông lâm ngư nghiệp và trong kinh tế quốc dân tăng dần qua các năm… Tính trong giai đoạn 2001 – 2009, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của ngành đạt 7,56 % (khối nông, lâm và thủy sản đạt 3,69%), góp phần vòa việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao hàng năm 7,35% của nền kinh tế quốc dân (niên giám thống kê 2008 TCTK).

Khai thác hải sản, từ một nghề cá thủ công, quy mô nhỏ, hoạt động vùng gần bờ, đã chuyển dịch theo hướng trở thành nghề cá cơ giới, hướng vào các đối tượng có giá trị cao và các đối tượng xuất khẩu. Phát triển khai thác hải sản xa bờ nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng sản phẩm khai thác phục vụ xuất khẩu, ổn định khai thác vùng ven bờ, khai thác đi đôi với bảo vệ phát triển nguồn lợi môi trường sinh thái. Dù còn một số hạn chế trong quá trình triển khai, nhưng chủ trương phát triển khai thác xa bờ, ổn định khai thác ven bờ đã khuyến khích ngư dân đầu tư, đóng mới tàu thuyền công suất vươn khơi. Tỷ trọng tàu thuyền công suất lớn trên 90 CV tăng đáng kể. Từ chỗ chỉ gần 1000 tàu năm 1997 đã tăng lên hơn 18.300 chiếc năm 2008 và năm 2009 có gần 19.800 chiếc (CKT & BVNL). Tỷ trọng sản phẩm khai thác ở vùng biển xa bờ chiếm gần 40% tổng sản lượng hải sản khai thác. Giai đoạn 1991 – 2000, khai thác hải sản có tốc độ tăng hàng năm là 6,7% (đạt 1,28 triệu tấn năm 2000). Giai đoạn 2001 – 2009 tốc độ tăng sản lượng khai thác hải sản ở mức 5,49% (đạt 1,94 triệu tấn năm 2008 và 2009 ướt đạt 2,07 triệu tấn). Hệ thống cảng cá đưa vào sử dụng phát huy hiệu quả. Hệ thống hậu cần dịch vụ tuyến khơi xa, tuyến ven bờ gắn với các trung tâm dịch vụ nghề cá đã bước đầu hình thành. Đây là nền tảng cơ sở vật chất kỹ thuật quan trọng để công nghiệp hóa nghề cá biển, phát triển khai thác hải sản xa bờ. Vốn là nghề sản xuất phụ, mang tính chất tự cấp tự túc, nuôi trồng thủy sản nhanh chóng trở thành một ngành sản xuất hàng hóa tập trung với trình độ kỹ thuật tiên tiến, phát triển ở tất cả các thủy vực nước ngọt, nước lợ, nước mặn theo hướng bền vững, bảo vệ môi trường, hài hòa với các ngành kinh tế khai thác. Diện tích nuôi trồng thủy sản từ 230 ngàn ha năm 1981 tăng lên hơn 1 triệu ha năm 2008. Từ 1990, tôm nuôi cho xuất khẩu là mũi đột phá quan trọng, đối tượng nuôi khác cũng ngày càng đa dạng hơn, cá ở nước ngọt, nước lợ và nuôi biển. Từ năm 2000, cá tra, basa trở thành đối tượng nuôi nước ngọt quan trọng, là mặt hàng xuất khẩu chủ lực sau tôm. Đến năm 2009 là mặt xuất khẩu chính, đạt kim ngạch xuất khẩu là 1,68 tỷ USD và 1,34 tỷ USD (số liệu của Tổng cục Hải quan). Nuôi trồng thủy sản đang từng bước trở thành ngành sản xuất hàng hóa chủ lực, phát triển rộng khắp hướng đến xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa tập trung. Giai đoạn 1991 – 2000, sản lượng nuôi trồng có tốc độ tăng đạt 8,01% (đạt 0,48 triệu tấn năm 2000) và giai đoạn 2001 – 2009, sản lượng nuôi trồng có tốc độ tăng rất nhanh đạt 19,98% (đạt 2,45 triệu tấn năm 2008 và đạt 2,57 triệu tấn năm 2009). Chế xuất khẩu là lĩnh vực phát triển rất nhanh, tiếp cận được trình độ công nghệ và quản lý tiên tiến của khu vực và thế giới trong một số lĩnh vực chế biến thủy sản… Từ 170 cơ sở chế biến thủy sản đông lạnh năm 1995, đến năm 2008 tăng lên 550 cơ sở chế biến thủy sản công nghiệp đạt công nghệ tiên tiến tầm khu vực và thế giới. Trong đó có cơ sở đạt tiêu chuẩn xuất khẩu vào thị trường chính. Đến năm 2009, sản phẩm thủy sản Việt Nam có mặt tại 160 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới, trong đó có thị trường quan trọng như EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hàn Quốc và Nga. Dù còn nhiều khó khăn trong quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu ngành Thủy sản vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng ổn định ở mức cao về sản lượng thủy sản và giá trị xuất khẩu.

Mục tiêu đến năm 2020. Kinh tế thủy sản đóng góp khoảng 25 – 30% trong GDP của khối Nông – Lâm – Ngư nghiệp với sản lượng thủy sản đạt 6,5 triệu tấn và xuất khẩu thủy sản đạt 7 – 8 tỷ USD.

Duy trì ổn định sản lượng khai thác ở mức 2,2 – 2,5 triệu tấn, trên cơ sở hiện đại hóa để tăng năng xuất khai thác và tăng khai thác xa bờ tạo chuyển biến mới về bảo vệ và tái tạo nguồn lợi.

Tạo việc làm ổn định cho khoảng 5 triệu lao động nghề cá với thu nhập bình quân gấp 2 – 2,5 lần hiện nay. Trên 50% lao động nghề cá được đào tạo, trong đó 80 – 100% lao động nuôi công nghiệp, chế biến và khai thác xa bờ được đào tạo.

Cơ bản hoàn thành tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị xa bờ, các sản phẩm nuôi chủ lực như cá tra, tôm nước lợ, nhuyễn thể hai mảnh vỏ… trên cơ sở kiểm soát tốt chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm gắn với truy suất được xuất xứ, nguồn gốc sản phẩm.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Góp ý Luật luật An toàn, vệ sinh lao động: Lấy bảo vệ con người và quản trị rủi ro làm trung tâm
Ngày 30/10/2026, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn Vệ sinh Lao động Việt Nam (VOSHA) tổ chức Hội thảo "Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động". Hội thảo do PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch VUSTA và GS.TS Lê Vân Trình, Chủ tịch VOSHA đồng chủ trì.
VUSTA công bố các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt
Ngày 30/10/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trang trọng tổ chức Hội nghị công bố các quyết định quan trọng về công tác cán bộ. Lãnh đạo VUSTA đã trao quyết định nghỉ hưu hưởng chế độ cho 02 cán bộ, chuyên viên, đồng thời trao các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng “Vì người nghèo”
Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.
Thủ tướng mong muốn đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng kiến tạo chuỗi giá trị mới
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và kiến tạo những chuỗi giá trị mới.
Tạo động lực tăng trưởng xanh từ khoa học, công nghệ
Chính phủ Việt Nam nhiều lần khẳng định quan điểm "không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế". Trong bối cảnh đó, việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu tăng trưởng nhanh và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các giải pháp khoa học, công nghệ đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Hội nghị Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ nhất (khóa IX)
Chiều 28/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ nhất (khóa IX), nhiệm kỳ 2026 - 2031. Hội nghị tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản nền tảng quan trọng, đánh giá kết quả hoạt động từ sau Đại hội IX, đồng thời đề ra nhiệm vụ trọng tâm đến cuối năm 2026.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 10/2026: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm
Sáng 28/10, tại Hà Nội, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 10, xác định nhiệm vụ trọng tâm tháng 11/2026 và triển khai một số nội dung quan trọng liên quan đến công tác xây dựng Đảng.
GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.