Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 21/07/2008 23:54 (GMT+7)

Phan Thanh Giản & vấn đề lịch sử

Đầu đề của công trình cũng đã cho chúng ta thấy rõ ý hướng của các tác giả khi thực hiện công trình này: phục hồi danh dự công việc, như chính tác giả bộc lộ trong phần dẫn nhập, được tác giả ôm ấp “từ buổi thiếu thời khi chúng tôi phải học điều mà học sinh Việt Nam phải học tại ghế nhà trường về nhân vật lịch sử này. Chúng tôi đã phẫn nộ trước điều chúng tôi cho là một bất công lớn. Do đó, nhiều năm sau, khi chúng tôi lên đại học và chọn lịch sử Việt Nam , điều tự nhiên là việc nghiên cứu của chúng tôi hướng về cuộc đời Phan Thanh Giản”.

Như các tác giả khẳng định trong phần dẫn nhập, đây không phải là một công trình bàn thêm về tiểu sử của Phan Thanh Giản, mà có mục đích trước tiên trình bày các tư liệu chưa được công bố. Các tác giả đã có cơ hội nghiên cứu, liên quan tới giai đoạn gây tranh cãi nhiều nhất của cuộc đời của Phan Thanh Giản, và cũng là những năm cuối đời của ông (1862 - 1867). Và đồng thời giới thiệu với độc giả các suy nghĩ của mình từ các tư liệu này, qua đó góp phần vào việc phục hồi một cách dứt khoát, vĩnh viễn cho nhân vật lịch sử đã được gắn chặt với các “biến cố rất trầm trọng khiến một đất nước độc lập, nhưng chìm đắm trong sự trì trệ triền miên, trở thành một thuộc địa của nước phương tây, và nhờ học hỏi từ đất nước này, nhưng không đánh mất bản sắc của mình, trong vòng chưa đầy một thế kỷ, bắt kịp trình độ của các cường quốc độc lập khác” (tr 1).

Công trình sử học của chúng tôi muốn giới thiệu ở đây gồm hai phần lớn chúng tôi gọi là phần nghiên cứu và phần phụ lục. Phần phụ lục, không đánh số trang, gồm 28 phụ lục được ghi từ số 1 đến số 28, tổng cộng là 178 trang sách.

Phần nghiên cứu gồm 262 trang, không kể phần đầu đánh số La Mã gồm một bản niên đại nhằm đối chiếu những năm tháng trong tiểu sử của Phan Thanh Giản với những năm tháng diễn ra những biến cố của lịch sử Việt Nam và thế giới và một tiểu sử tóm tắt của Phan Thanh Giản.

Các nhà khoa học, nhà văn hoá cả nước trước mộ phần cụ Phan Thanh Giản tại Bảo Thạch - Ba Tri - Bến Tre năm 2003

Các nhà khoa học, nhà văn hoá cả nước trước mộ phần cụ Phan Thanh Giản tại Bảo Thạch - Ba Tri - Bến Tre năm 2003

Phần nghiên cứu được chia thành ba phần chính. Phần một, từ trang 5 cho đến trang 78, ghi lại các biến cố diễn ra từ năm 1862 tới 1867 và vai trò của Phan Thanh Giản trong giai đoạn lịch sửnày theo các tư liệu được biết đến cho tới nay: một loạt những sứ vụ không thể thực hiện nổi, từ những cuộc tiếp xúc ngoại giao Pháp - An Nam tới cuộc tấn công bất ngờ của Pháp vào Vĩnh Long và việcPhan Thanh Giản uống thuốc độ tự tử chết.

Phần hai, từ trang 79 tới trang 117, có đầu đề là Phan Thanh Giản bị phê phán một cách không mấy khách quan. Trong phần này, các tác giả duyệt lại các vụ lên án Phan Thanh Giản, từ ngay sau khi ba tỉnh miền Tây Nam bộ rơi vào tay Pháp cho tới những vụ lên án sau này. Ba đợt lên án và đánh giá Phan Thanh Giản đáng được lưu ý nhất trong số những vụ lên án được nêu trong phần này là đợt lên án của triều đình Huế và của vua Tự Đức ngay sau khi mất ba tỉnh miền Tân Nam bộ và Phan Thanh Giản tự tử chết, đợt thứ hai là cuộc hội thảo khoa học do giáo sư Trần Huy Liệu tổ chức vào năm 1963 và cuộc hội thảo được tổ chức tại Vĩnh Long năm 1994, dưới sự chủ toạ của giáo sư Phan Huy Lê và được các tác giả gọi là một nỗ lực phục hồi tuy còn dè dặt.

Trước hết là bản án của triều đình Huế và của vua Tự Đức. Trước cái tin ba tỉnh miền Tây Nam bộ chưa đánh đã hàng, dưới con mắt của Tự Đức, Phan Thanh Giản trở thành một kẻ có lời nói không đi đôi với việc làm, không có khả năng đối diện với các biến cố để tìm ra phương thức chạy chữa. Các quan trong triều lên án Phan Thanh Giản đã thiếu trách nhiệm trong khi thi hành bổn phận của mình, đã không điều tra chính xác tình hình để báo cáo với triều đình và chờ chỉ thị của triều đình, không tiêu diệt được âm mưu của đối phương, không biết hành động theo tình huống nên đã bỏ lỡ nhiều cơ hội (81 - 82). Cuối cùng, Tự Đức kết tội Phan Thanh Giản có trách nhiệm trong việc để mất sáu tỉnh Nambộ vào tay Pháp: ba tỉnh miền Đông vì mất cảnh giác và lơ là trong việc thương thuyết với Pháp, ba tỉnh miền Tâyvì không nắm được thời cơ. Với tội danh này tên tuổi Phan Thanh giản bị xoá khỏi bia tiến sĩ, và mặc dù đã tự xử bằng cách uống thuốc độc chết, Phan Thanh Giản vẫn cứ bị kêu án chặt đầu, để bản án được tuyên trên kẻ đã chết sẽ tồn tại mãi mãi, để là một lời cảnh cáo đối với các thế hệ sau. Tác giả lưu ý là việc lên án của Tự Đức tương ứng với một hoàn cảnh lịch sử trong đó cần phải đề cao tinh thần yêu nước của toàn thể dân tộc dù có phải phạm bất công đối với một cá nhân.

Tại cuộc hội thảo khoa học được tổ chức tại Hà Nội năm 1963, dưới quyền chủ toạ và điều khiển của giáo sư Trần Huy Liệu, Phan Thanh Giản lại bị lôi ra toà và bị xử đề bản án dành cho kẻ đầu hàng giặc hôm qua, cũng sẽ là bản án dành cho mọi hành động khuất phục trước sức mạnh vật chất của kẻ xâm lược hôm nay: năm 1867 là giặc Pháp, và bây giờ là giặc Mỹ. Tác giả đã dành nhiều trang để phân tích bài của giáo sư Trần Huy Liệu đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử,số 66, 10 – 1963. Theo bài viết của giáo sư Trần Huy Liệu và được tác giả trích dẫn thì hội nghị do giáo sư tổ chức đã nhất trí trong việc phê phán và lên án Phan Thanh Giản. Phan Thanh Giản quả là con người không có lòng yêu nước. Tuy nhiên, tác giả cho biết, ngay trong buổi hội thảo lên án này, cũng đã có hai nhà sử học không đồng quan điểm trong việc lên án Phan Thanh Giản, đó là Đặng Huy Vận và Chương Thâu, theo bài viết của Trần Huy Liệu. Tác giả cũng đã trích dẫn khá dài bài “Phan Thanh Giản trong lịch sử cận đại Việt Nam” đăng trong tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 48, (3 - 1963), của hai nhà sử học Đặng Huy Vận và Chương Thâu. Lập trường của hai nhà sử học này đã tạo nên một sự ngạc nhiên không ai có thể ngờ tới tại hội nghị và theo giáo sư Trần Huy Liệu, được tác giả trích dẫn, lập trường của họ, trong bối cảnh của sự nhất trí cao của hội nghị, dĩ nhiên, đã gây nên một loạt các phản đối.

Tác giả Phan Thị Minh Lễ lưu ý là vào năm 1963 này, người Mỹ gia tăng các cuộc tấn công Hà Nội bằng không lực, và chính quyền Hà Nội phát động chiến dịch chống lại chính quyền Sài Gòn và đế quốc Mỹ với khẩu hiệu: “Đẩy mạnh cuộc đấu tranh toàn diện, đánh thắng hoàn toàn cuộc chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ” (tr 86).

Thứ ba là cuộc hội thảo về Phan Thanh Giản tổ chức tại Vĩnh Long năm 1994. Tác giả trích dẫn khá dài và phân tích bài của giáo sư Phan Huy Lê tóm tắt các tham luận của các nhà sử học tham dự hội thảo. Xem ra có sự thay đổi ý kiến nơi các nhà sử học so với hội thảo năm 1963. Tác giả đã trích dẫn và đồng tình với cách giải thích của giáo sư Phan Huy Lê về việc ba thành Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên rơi vào tay Pháp: hạm đội của Pháp áp sát thành Vĩnh Long; Pháp gửi một tối hậu thư cho Phan Thanh Giản buộc phải giao ba tỉnh miền Tây và lên tàu để thương thuyết về sự đầu hàng. Vào chính lúc Phan Thanh Giản quay trở lại sau cuộc trao đổi thì quân Pháp, lợi dụng việc ông vào thành để vây thành. Trường hợp của hai thành An Giang và Hà Tiên cũng vậy. Đó là điều khiến cho việc chiếm ba tỉnh miền Tây được dễ dàng và ít đổ máu (tr 111).

Văn bản đánh giá nhân vật Phan Thanh Giản của Viện Sử học Việt Nam do Viện Trưởng Nguyễn Văn Nhật ký ngày 20 - 1 - 2008.

Văn bản đánh giá nhân vật Phan Thanh Giản của Viện Sử học Việt Nam do Viện Trưởng Nguyễn Văn Nhật ký ngày 20 /1/2008

Theo tác giả thì giáo sư Phan Huy Lê đã đưa vào cuộc trao đổi một yếu tố mới đó là ý kiến, không phải chỉ của các nhà trí thức, đa số từ miền Bắc, mà còn là của người phía Nam và đặc biệt làcủa dân làng của Phan Thanh Giản, của dân chúng và cán bộ hai tỉnh Bến Tre và Vĩnh Long. Nhưng theo tác giả, không thể nói được rằng nội dung của cuộc hội thảo mới này đã phục hồi hoàn toàn danh dựcho Phan Thanh Giản. Tuy nhiên, tác giả cũng đồng ý với kết luận của giáo sư Phan Huy Lê: bi kịch của Phan Thanh Giản là do một mặt ông chia sẻ tư tưởng chủ hoà của triều đình, do lòng trung thànhcủa ông đối với vua, mặt khác do lòng thương dân sâu sắc của ông. Mâu thuẫn này chỉ có thể đặt Phan Thanh Giản vào một tình huống không lối thoát và ông buộc phải tự tử để chứng tỏ sự cao thượng củamình (tr 114).

Phần ba, từ trang 117 tới trang 232, dành cho việc phục hồi danh dự cho Phan Thanh Giản (“Réhaibilitation de Phan Thanh Giản”). Phàn này được chia thành hai phần A và B. Trong phần A, tác giả trình bày các chứng cứ bày tỏ lòng kính trọng và ngưỡng mộ đối với Phan Thanh Giản của những người đương thời hay của những người sau này đã đọc tiểu sử và nghiên cứu tác phẩm của ông: những bài thơ, bài văn của Nguyễn Đình Chiểu, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Thông, Phạm Viết Chánh, Phương Thanh, việc Tùng Thiện Vương xuất bản trọn vẹn các công trình của Phan Thanh Giản, đơn xin phục hồi cho Phan Thanh Giản của một số nhân vật trong đó có Trần San và Nguyễn Hữu Độ, con rể của vua, chiếu chỉ của Bảo Đại tái lập việc thờ cúng Phan Thanh Giản và một số chứng cứ khác.

Phần B, từ trang 143 đến 232, mang tựa đề: Phan Thanh Giản vô tội (Phan Thanh Giản est innocent). Trong phần này, và có thể là phần chính của công trình, tác giả trình bày và phân tích những tư liệu cho tới nay chưa được công bố hay chưa được khai thác đến nơi đến chốn. Tác giả nêu lên ba nguồn tư liệu chính thuộc loại này. Nguồn tư liệu thứ nhất là số thư từ của Đô đốc de La Grandière. Như được trình bày trong lời dẫn nhập, tác giả đã may mắn gặp được một thành viên trong dòng họ của Đô đốc de La Grandière và qua cuộc gặp gỡ này, tác giả đã có thể tiếp cận được với bốn tập thủ bản gồm các thư từ riêng tư của vị Đô đốc, người cầm đầu cuộc hành quân chiếm ba tỉnh miền Tây, trong các năm từ 1863 tới 1868. Và tác giả còn cho biết là đã được gia đình dòng họ de La Grandière cho phép tra cứu một hồ sơ chưa hề được mở kề từ khi Đô đốc qua đời. Các tài liệu này cho tác giả thấy rõ mưu đồ của Pháp cũng như những việc chuẩn bị bí mật của họ để chiếm ba tỉnh miền Tây. Nguồn tư liệu thứ hai đó là các microfilms 28, 29, 29bis trong kho lưu trữ của Bộ Ngoại giao Pháp, liên quan đến giai đoạn 1862 - 1867, rất ít người khai thác. Và nguồn tư liệu thứ ba là cuốn Châu bản triều Tự Đức 1848 - 1883 chọn tuyển và tóm lược, do Viện Khoa học Xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh, Ban Văn học, ấn hành năm 1979 để lưu hành nội bộ. Theo tác giả thì các bản văn này chứng minh một cách hùng hồn trách nhiệm của Tự Đức và của một số quan lại tại triều đình trong việc để mất các tỉnh Nam bộ.

Các tư liệu chưa được công bố này đã bắt buộc các tác giả trở lại với các biến cố và sự kiện được nêu lên ở phần thứ nhất và cho phép các tác giả nhìn các biến cố này dưới một ánh sáng mới (tr 143). Và việc đọc lại lịch sử với ánh sáng của những tư liệu mới này đã minh chứng một cách hùng hồn và đầy thuyết phục Phan Thanh Giản không phải là một kẻ bán nước, phản quốc và phản dân tộc.

Công trình của Phan Thị Minh Lễ và Pierre Ph. Chanfreau được giới thiệu trên đây, chắc chắn với nhiều thiếu sót, là một công trình đáng được trân trọng, không phải chỉ vì nó đã góp phần rất lớn, nếu không nói là quyết định, vào việc trả lại công bằng cho Phan Thanh Giản, mà còn vì, theo chúng tôi, nó đã nhắc lại một cách hùng hồn và cụ thể bài học vỡ lòng của những người học sử với sử liệu, và nhờ đó, chúng ta còn có thể trả lại công bằng cho nhiều Phan Thanh Giản khác nữa trong lịch sử.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

VUSTA xây dựng đề án vị trí việc làm giai đoạn 2027–2031
Là hội quần chúng được Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ ở Trung ương, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đang tập trung triển khai việc rà soát vị trí việc làm (VTVL), xây dựng phương án biên chế giai đoạn 2027–2031, nhằm hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả tập hợp đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ (KH&CN).
Tập huấn sử dụng hệ thống thông tin điều hành tác nghiệp Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Ngày 5/11, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Hướng dẫn sử dụng phần mềm trong quản lý và điều hành tác nghiệp văn bản đi và đến. Hội thảo nhằm nâng cao kỹ năng sử dụng, khai thác hiệu quả các chức năng của hệ thống số hóa, góp phần tích cực vào quá trình chuyển đổi số toàn diện trong công tác quản lý, điều hành và xử lý văn bản nghiệp vụ tại Cơ quan VUSTA.
Lào Cai: 52 đề tài xuất sắc sẽ được trao giải Cuộc thi lần thứ 21
Chiều 3/11, Ông Giàng Quốc Hưng - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh, Trưởng Ban Tổ chức Hội thi Sáng tạo kỹ thuật (Hội thi) và Cuộc thi Sáng tạo thanh, thiếu niên, nhi đồng tỉnh (Cuộc thi), chủ trì cuộc họp thống nhất công tác chuẩn bị tổng kết, trao giải Cuộc thi lần thứ 21 và phát động Cuộc thi lần thứ 22.
Cải cách hành chính và chuyển đổi số ở cơ sở cần thực chất hơn
Năm 2026, khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp đi vào vận hành, cải cách hành chính và chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cao với chính quyền cơ sở. Qua khảo sát tại phường Tuy Hòa, Cư Bao, xã Sơn Hòa, Sông Hinh, Ea Na và Yang Mao, Hội đồng tư vấn Dân chủ – Pháp luật thuộc Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Đắk Lắk ghi nhận nỗ lực của địa phương và những vấn đề cần tháo gỡ để nâng cao chất lượng phục vụ.
Tôn vinh tinh hoa đạo học, tiếp nối mạch nguồn hiền tài dân tộc
Từ ngày 5 - 15/11, thành phố Hà Nội tổ chức chuỗi hoạt động kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (1076–2026), với nhiều chương trình văn hóa, nghệ thuật, triển lãm, trải nghiệm di sản và hội thảo khoa học. Đây là dịp tôn vinh những giá trị bền vững của nền Quốc học Việt Nam, khơi dậy truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và tinh thần trọng dụng hiền tài.
Đắk Lắk: Phản biện hồ sơ Dự án nhà máy điện gió, điện mặt trời
Sáng 29/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh đã tổ chức Hội đồng góp ý, phản biện xã hội và phản biện khoa học đối với hồ sơ đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư Dự án Nhà máy điện gió E&M Đắk Lắk tại xã Ea Knốp và xã Cư Prao; Dự án Nhà máy điện mặt trời Jang Pông 2 tại xã Ea Wer.
Góp ý Luật luật An toàn, vệ sinh lao động: Lấy bảo vệ con người và quản trị rủi ro làm trung tâm
Ngày 30/10/2026, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn Vệ sinh Lao động Việt Nam (VOSHA) tổ chức Hội thảo "Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động". Hội thảo do PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch VUSTA và GS.TS Lê Vân Trình, Chủ tịch VOSHA đồng chủ trì.
VUSTA công bố các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt
Ngày 30/10/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trang trọng tổ chức Hội nghị công bố các quyết định quan trọng về công tác cán bộ. Lãnh đạo VUSTA đã trao quyết định nghỉ hưu hưởng chế độ cho 02 cán bộ, chuyên viên, đồng thời trao các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng “Vì người nghèo”
Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.
Thủ tướng mong muốn đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng kiến tạo chuỗi giá trị mới
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và kiến tạo những chuỗi giá trị mới.