Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 13/02/2008 16:07 (GMT+7)

Nuôi tôm công nghiệp và những nguy hại do ô nhiễm môi trường

Sự suy giảm của ngành công nghiệp nuôi tôm xuất p hát từ những nguyên nhân sau:

- Mức độ tăng trưởng chậm của thị trường tiêu thụ.

- Hệ số chuyển đổi thức ăn thấp.

- Sự xuất hiện và có nhiều hướng tăng của một số bệnh dịch lây lan môi trường.

- Mực nước ngầm trong khu vực bị hạ thấp do bơm nước ngọt quá mức.

- Môi trường bị xuống cấp trong các khu vực nuôi tôm công nghiệp.

- Chi phí thức ăn cao so với hiệu quả nuôi tôm.

- Biến động giá tôm trên thị trường.

- Chất lượng trại nuôi con giống kém.

- Chất lượng thức ăn kém.

- Chất lượng nguồn nước kém.

- Thiếu sự hỗ trợ kỹ thuật cho nông dân.

- Tốc độ sản xuất hàng năm giảm sút.

Hiện nay, trên 80% sản lượng tôm trên thế giới là từ nguồn tôm nuôi công nghiệp với các giống tôm chính như tôm sú, tôm thẻ, tôm thẻ đỏ đuôi. Các loài tôm này phần lớn được nuôi tại các nước Đông Nam Á, Nam Á, Trung Á và Nam Mỹ. Số liệu thống kê cho biết tổng số lượng trại nuôi tôm trên thế giới là 1.25 triệu ha, với sản lượng hàng năm từ 50 tới 10.000 kg/ha. Hoạt động nuôi tôm bao gồm nuôi quảng canh, bán thâm canh và thâm canh.

Việc tăng trưởng nhanh chóng của hoạt động nuôi tôm trong hai thập niên gần đây đã mang lại một sự mở rộng diện tích nuôi tôm trên toàn cầu, nhưng cũng làm thay đổi nhanh chóng công nghệ nuôi trồng thuỷ sản. Những công nghệ kỹ thuật tiên tiến xuất hiện khá rõ nét trong hoạt động nuôi con giống, xây dựng công thức cho thức ăn và kỹ thuật cho ăn.

Tuy nhiên xu hướng tăng trưởng của hoạt động nuôi tôm trong thập kỷ 80 đã không còn tác dụng, sang thập niên 90 và bắt đầu có những giao động từ giữa thập niên 90 cho tới ngày nay. Những vấn đề xuất hiện và ngăn cản sự phát triển của hoạt động nuôi tôm bao gồm bùng phát bệnh do virus, sự xuống cấp của môi trường, triệt phá rừng ngập mặn, thiếu hụt các trại nuôi tôm giống có chất lượng. Ngoài ra, việc thay đổi môi trường tự nhiên ven biển đã làm xuất hiện những lo ngại liên quan tới chất lượng nước và đất, sự cân bằng môi trường.

Ô nhiễm liên quan đến ao nuôi tôm

Công nghệ nuôi tôm bắt đầu từ những năm 80 với việc phát triển kỹ thuật nuôi con giống nhân tạo một cách hiệu quả. Từ đó hoạt động nuôi tôm có sự chuyển đổi từ nuôi quảng canh, bán thâm canh sang nuôi thâm canh. Kỹ thuật nuôi thâm canh bao gồm:

- Tăng mật độ thả (trung bình 250,000 đến 500,000 con giống trên 1 ha)

- Sự phụ thuộc lớn vào các trại nuôi con giống.

- Phụ thuộc vào thức ăn chế biến.

- Sử dụng hệ thống quạt khí.

- Tăng chu kỳ trao đổi nước.

Càng tăng cường hoạt động nuôi thâm canh thì nhu cầu quản lý môi trường nuoio càng cần thiết. Mức độ huỷ hoại môi trường nuôi bên trong ao nuôi và bên ngoài xuất phát từ các nguyên nhân sau:

- Mật độ cao.

- Sử dụng nhiều thức ăn chế biến sẵn.

- Các ao bố trí dày đặc bên cạnh nhau dọc theo miền duyên hải.

- Không có ao xử lý trước khi đưa vào ao nuôi.

- Tăng chu kỳ thay nước.

- Chukỳ làm sạch ao chưa hiệu quả.

- Mức độ bài tiết của con tôm tăng lên.

Ô nhiễm do việc sử dụng thuốc và các hoá chất trong nuôi tôm

Phần lớn sản phẩm dư thừa trong nuôi tôm đã tích tụ dưới đáy ao. Đây chính là nguồn gây nguy hại cho con tôm và cho hoạt động nuôi tôm. Lớp bùn đáy ao này rất độc, thiếu oxy và chứa nhiều chất độc như ammonia, nitrite, hydrogen sulfide. Con tôm luôn có xu hướng tránh khỏi vùng này và tập trung vào những khu vực sạch sẽ hơn. Do việc tập trung vào một vùng sẽ làm giảm bớt diện tích cho ăn, cũng như tăng tính cạnh tranh trong khi ăn. Nếu như toàn bộ đáy ao bị dơ bẩn thì con tôm bị bắt buộc phải sống trong môi trường ô nhiễm. Lớp bùn dơ bẩn còn tác động lên nước trong ao nuôi làm giảm chất lượng nước.

Chất lượng nước và chất lượng đáy ao dơ bẩn sẽ tác động trực tiếp tới con tôm. Con tôm luôn bị căng thẳng, thể hiện qua việc kém ăn, mức tăng trưởng giảm và dễ bị mắc bệnh do vi khuẩn như Vibriosis. Và dẫn đến việc tôm chết hàng loạt. Phần lớn các bệnh của con tôm đều có nguồn gốc từ môi trường mà chúng sinh sống.

Môi trường bên ngoài trại nuôi tôm, chất thải dơ bẩn thường không được quản lý tốt sẽ làm ảnh hưởng tới hệ sinh thái ven biển. Điều này không chỉ tác động lên môi trường đất mà còn lên các giá trị tài nguyên ven biển, bao gồm cả các trại nuôi tôm. Việc tái sử dụng ao bị ô nhiễm hay đổ đống ra môi trường xung quanh sẽ tạo điều kiện làm cho nguồn nước ô nhiễm và tác động lên các hoạt động ven biển.

Tại một số nơi hoạt động nuôi tôm đem lại kết quả rất tốt trong một vài năm, nhưng rồi bắt đầu một thời kỳ sa sút trầm trọng dẫn đến phá sản mà nguyên nhân chủ yếu liên quan các mầm bệnh trong môi trường nuôi.

Thông thường nhà nông dùng kháng sinh để trị bệnh, nhưng việc đó không giải quyết được vấn đề cốt yếu. Hiện nay, việc áp dụng công nghệ sinh học và các chế phẩm sinh học để gìn giữ và cải thiện năng suất nuôi đã được chấp thuận rộng rãi như một phương thức chữa trị hiệu quả, rẻ tiền và tốt hơn nhiều so với việc sử dụng kháng sinh. Chế phẩm sinh học và việc quản lý cho ăn ở một mức độ lớn là một phương cách kiểm soát mầm bệnh trong các ao nuôi tôm. Chẳng hạn khi sử dụng vi khuẩn Bacillus sp, như chế phẩm sinh học đã tăng thời gian nuôi lên gấp đôi so với ao nuôi không sử dụng chế phẩm sinh học và bị nhiễm bệnh Vibrio harveyi. Tại sao có sử dụng chế phẩm sinh học thì mức phát sáng do vi khuẩn V. Hareyi thấp hay gần như triệu tiêu và cho một kết quả thu hoạch rất tốt. Việc bổ sung thêm Bacillus sp đã đem lại lợi ích cho tôm trong việc chống bệnh phát sáng (Vibriosis ) và khoẻ mạnh hơn và dẫn tới việc tăng sản lượng nuôi. Chế phẩm sinh học còn chứa axit lactic (Lactobacillus và Carnobacterium sp) là một loại vi khuẩn hứa hẹn có tác dụng chống lại mầm bệnh và cung cấp một nguồn kích thích miễn dịch. Carnobacterium divergens là một loại chế phẩm sinh học tiềm năng khác có tác dụng làm giảm áp lực gây bệnh của vi khuẩn Vibrio anguilarum. Các lợi ích khác của chế phẩm sinh học bao gồm:

- Tăng cường vi thực vật đường ruột

- Cung cấp axit amino căn bản và vitamin từ vi thực vật đường ruột.

- Nâng cao hệ số tiêu thụ thức ăn.

- Nâng cao năng suất và sản lượng.

- Tăng số vụ nuôi.

- Loại bỏ việc sử dụng kháng sinh trong nuôi trồng.

- Cải thiện môi trường nuôi giảm tỷ lệ mắc bệnh.

Nghiên cứu của Trung tâm Phát triển Thuỷ sản Đông Nam Á (SEAFDEC) cho thấy: Hiệu quả của chế phẩm men vi sinh dựa vào số lượng bào tử vi khuẩn tồn tại vào thời điểm mà chế phẩm men vi sinh được đem sử dụng trong ao phải có trên một tỷ bào tử vi khuẩn tồn tại trong một gram hay một mili lít thì sản phẩm mới có hiệu quả. Những chế phẩm men vi sinh có số lượng bào tử vi khuẩn thấp thường được đóng gói dạng lỏng. Bởi vì hệ số tồn tại của bào tử bị giảm đi nhanh chóng trong quá trình vận chuyển và lưu kho đối với các sản phẩm ở dạng lỏng, và chúng có thời hạn sử dụng dưới ba tháng.

Nguồn: Biển Việt Nam, số 7 + 8 - 2007, tr 39

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.