Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 06/06/2007 21:57 (GMT+7)

Nỗi buồn trong ngôn ngữ “Sầu xuân” của Hàn Mặc Tử

Đêm xuân lạnh, bóng xuân tàn

Hoa xuân mơn trớn can tràng thuyền quyên

Trời xuân vắng vẻ hương nguyền

Sông xuân lặng lẽ con thuyền xa xa

Xuân đi đi khắp sơn hà

Tuổi xuân chất mãi tóc da đổi màu

Ngày xuân như gió thoảng mau

Tình xuân một khối ai sầu hơn ai

Mưa xuân như nhắc chuyện đời

Rượu xuân như gợi những lời nước non

Thề xuân dù chẳng vuông tròn

Khoá buồng xuân lại vẫn còn sầu xuân.

(Hàn Mặc Tử, Thơ và đời, NXB Văn học, HN, 2000)

Chỉ cần đọc qua một lần, ta đã thấy bài thơ thật đặc biệt bởi câu nào cũng có từ xuân, riêng câu đầu và câu cuối có hai từ xuân. Như vậy, bài thơ có tất cả 14 lần xuânxuất hiện. Toàn bộ những từ xuântrong bài thơ có thể tạm chia về 4 khu vực chính. Khu vực không gian gồm trời xuân, sông xuân, xuân đi.Khu vực thời gian gồm đêm xuân, bóng xuân, tuổi xuân, ngày xuân. Khu vực cảnh vật gồm hoa xuân, mưa xuân, rượu xuân. Biểu hiện lòng người gồm tình xuân, thề xuân, buồng xuân, sầu xuân. Trong các kết hợp trên, có thể thấy đa số đều được cấu tạo theo mô hình danh từ + xuân, trừ một trường hợp duy nhất: ở câu thơ thứ 5, xuânxuất hiện với một mô hình khác: xuân +động từ. Trừ hai trường hợp thề xuânsầu xuân,các trường hợp x + xuân­còn lại hầu hết đều là những thi liệu của văn chương cổ điển, đã được dùng nhiều trong thơ ca. Nhưng chỉ ở Sầu xuâncủa Hàn Mặc Tử, những thi liệu đó mới được sử dụng theo một tính chất hoàn toàn khác, kết hợp với nhau thành một hệ thống ngôn từ theo chủ đề nhằm làm nổi bật lên tâm trạng sầu muộn của chủ thể trữ tình. Sự bất thường trong việc sử dụng lại những thi liệu cũ để diễn đạt về những tình cảm mới sẽ được làm rõ khi chúng ta xem xét từng trường hợp cụ thể dưới đây. Hãy bắt đầu từ bốn câu thứ nhất:

Đêm xuân lạnh, bóng xuân tàn

Hoa xuân mơn trớn can tràng thuyền quyên

Trời xuân vắng vẻ hương nguyền

Sông xuân lặng lẽ con thuyền xa xa

Những yếu tố về thời gian và cảnh vật mùa xuân trong mấy câu thơ này đều được miêu tả theo cấu trúc cú pháp giống nhau: luôn luôn có những tính từ/động từ đi kèm bổ sung ý nghĩa cho những cấu trúc x + xuân: đêm xuân lạnh, bóng xuân tàn, hoa xuân mơn trớn, trời xuân vắng vẻ, sông xuân lặng lẽ.

Nói về đêm xuân, thi ca cổ điển thường miêu tả trong cảm giác nhẹ nhàng êm ái:

Phù dung trướng noãn độ xuân tiêu

(Màn phù dung êm ái đêm xuân)

( Trường hậu ca- Bạch Cư Dị, Tản Đà dịch)

Xuân miên bất giác hiểu

(Giấc ngủ (đêm) mùa xuân (say sưa) không biết rằng trời đã sáng)

( Xuân hiểu- Mạnh Hạo Nhiên)

Khoa thược dược mơ mòng thuỵ vũ

Đoá hải đường thức ngủ xuân tiêu

( Cung oán ngâm khúc- Nguyễn Gia Thiều)

Đêm xuâncòn được xem là thời khắc hạnh phúc, quý giá trong sự hưởng thụ cuộc sống của con người:

Xuân tiêu nhất khắc trị thiên kim

(Một khắc đêm xuân đáng giá ngàn vàng)

( Thành ngữ)

Vậy mà ở đây nhà thơ lại thấy đêm xuânlạnh lẽo xiết bao. Mới là câu mở đầu trong một bài thơ lấy mùa xuân làm thời gian nghệ thuật chủ đạo nhưng thi nhân đã nhìn thấy trước sự tàn phai: bóng xuân tàn. Các yếu tố còn lại như trời xuânhay sông xuâncũng đều mang dáng vẻ bất thường như vậy. Trời xuânkhông thấy vẻ ngào ngạt hương hoa, líu lo chim chóc trong thơ Xuân Diệu:

Giữa vườn ánh ỏi tiếng chim vui

Thiếu nữ nhìn sương chói mặt trời

Sao buổi đầu xuân êm ái thế

Cánh hồng kết những nụ cười tươi

Sông xuâncũng không thấy dạt dào sóng nước, hoà cùng với vẻ đẹp của trời xuân như trong thơ Hồ Chí Minh:

Xuân giang xuân thuỷ tiếp xuân thiên

(Sông xuân nước lẫn bầu trời thêm xuân)

(Nguyễn Tiêu)

Trời xuânsông xuânở đây đơn lẻ, rời rạc, tản mát. Tất cả đều toát lên cảm giác về một sự hao khuyết. Trong khung cảnh đó, con người xuất hiện:

Hoa xuân mơn trớn can tràng thuyền quyên

Mĩ nhân được đặt bên cạnh hoa xuân. Nếu như trong một khung cảnh khác, đây chắc hẳn là một bức tranh lay động lòng người bởi như người xưa từng quan niệm: “Nếu không có hoa, rượu, mĩ nhân thì xin đừng sinh ra ở thế giới này” ( U mộng ảnh -Trương Trào, thế kỷ XVIII). Thế nhưng ở đây ta chỉ thấy lòng nặng trĩu vì bức tranh hoa - mĩ nhân cũng không khỏi toát lên sự cô quạnh, đơn lẻ khi nó bị vây xung quanh bởi những lạnh - tàn - vắng vẻ - lặng lẽ. Hoa xuânthì đương nhiên là vẫn đẹp nhưng cái đẹp ấy khác nào chỉ khiến con người thêm buồn, giống như nỗi buồn của người chinh phụ trong. Chinh phụ ngâmxưa:

Hoa giãi nguyệt nguyệt in một tấm

Nguyệt lồng hoa hoa thắm từng bông

Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng

Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đâu

(Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm)

Sau bốn câu thơ mở đầu, xuântrong những câu thơ kế tiếp của Sầu xuânđược mở rộng hơn biên độ về không gian và thời gian, trong đó có thời gian của đất trời:

Xuân đi đi khắp sơn hà

Tuổi xuân chất mãi tóc da đổi màu

Ngày xuân như gió thoảng mau

Tình xuân một khối ai sầu hơn ai

Duy nhất trong bài thơ, có một lần xuânđươc miêu tả trong sự vận động: xuân đi đi khắp sơn hà. Nhưng vận động dường như chỉ để trải nỗi buồn ra rộng hơn. Thế nên từ không gian, nỗi buồn đã thấm vào từng khoảng khắc thời gian. Nghịch lý biết bao khi con người đang sống trong tuổi thanh xuân mà lại cảm thấy mùa xuân đến trong sự chồng chất, chỉ mang lại tàn phai và già nua: tóc da đổi màu.Đến Nguyễn Trãi khi đã là một ông già vẫn tiếc nuối tuổi xuân:

Tiếc thiếu niên qua lượt hẹn lành

Hoa hoa nguyệt nguyệt luống vô tình

Biên xanh nỡ phụ cười đầu bạc

Đầu bạc xưa này có tuổi xanh

(Quốc âm thi tập)

Vậy mà Hàn Mặc Tử đã chán chường, không thiết gì đến tuổi xuân,cũng giống như khi Chế Lan Viên đã viết:

Tôi có chờ đâu có đợi đâu

Đem chi xuân đến gợi thêm sầu

Với tôi tất cả như vô nghĩa

Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau

(Xuân)

Từ thời gian của chính mình, nhìn ra thời gian của đất trời, thi nhân thấy ngày xuânchỉ như gió thoảng.

Ở đây thi nhân không thích thú gì mùa xuân, không muốn hưởng thụ những niềm vui của tuổi trẻ vậy mà lại cảm thấy thời gian trôi đi nhanh. Nghịch lí này nói lên rằng con người đã và đang sống trong một tâm trạng vô định. Cái vô định ấy kéo người ta đi trong cả thời gian lẫn không gian để rồi cuối cùng, nén lại cái tình xuânkia thành một khối u uất, cô độc và lạc lõng.

Nếu như qua những từ xuânở bốn câu đầu, thường là sự miêu tả cụ thể, biểu hiện qua những tính từ với vai trò định ngữ cho những kết hợp x + xuânthì trong những câu thơ kế tiếp như chúng ta vừa thấy, cách miêu tả không đi vào cụ thể nữa mà chuyển dần sang ước lệ: đi khắp sơn hà, tóc da đổi màu, như gió thoảng mau, tình xuân một khối.Và hai câu thơ tiếp theo lại là hai hình ảnh so sánh:

Mưa xuân như nhắc chuyện đời

Rượu xuân như gợi những lời nước non

Thi nhân lảng tránh sự miêu tả cụ thể. Thực ra, mưa xuânrượu xuânvốn là hai hình ảnh đẹp của mùa xuân, được nói đến nhiều trong thơ ca truyền thống. Nếu ở một nhà thơ khác, chắc hẳn mưa xuânsẽ hiện lên rõ rệt hơn với từng đường nét chi tiết, cảm giác sinh động, chẳng hạn:

Lê hoa nhất chi xuân đới vũ

(Một cành hoa lê đẫm mưa xuân)

( Trường hận ca -Bạch Cư Dị)

Xuân vũ thiêm lai thuỷ phách thiên

(Lại thấy mưa xuân nước vỗ trời)

( Bến đò xuần đầu trại -Nguyễn Trãi)

Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay

Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy

( Mưa xuân- Nguyễn Bính)

Thế nhưng Hàn Mặc Tử chỉ viết: Mưa xuân như nhắc chuyện đời. Dường như nói đến cảnh vật chỉ là để nói chuyện khác chứ không phải để miêu tả cảnh vật. Cái tâm trạng u uẩn của con người ở đây đâu phải đặt vào chỗ những cảnh vật đó. Dễ hiểu vì sao mưa xuânrượu xuânở đây được hiện lên với cùng một thủ pháp: tả mà không tả. Một cách khác, đằng sau hai cụm từ này có một ẩn dụ: sự cất giấu những nỗi niểm

Nỗi niềm ấy không dễ nói, không dễ bày tỏ, cũng không dễ quên đi. Con người không thể lẩn tránh nó nên phải tìm cách chạy trốn nó. Cuộc chạy trốn nỗi buồn ấy đẩy cái tứ của bài thơ lên chỗ cao nhất:

Thề xuân dù chẳng vuông tròn

Khoá buồng xuân lại vẫn còn sầu xuân

Cặp hình ảnh thề xuân - buồng xuânlà những cặp ẩn dụ gợi nên trong ta những cảm giác về hạnh phúc lứa đôi. Buồng xuâncòn gợi nhớ về câu thơ xưa của Đỗ Mục:

Đồng Tước xuân toả nhị Kiều

(Một đền Đồng Tước khoá xuân hai Kiều)

Kết hợp cùng hình ảnh đã xuất hiện trước đó: mĩ nhân bên hoa xuânrượu xuân, đây đích thực là một cuộc chạy trốn của con người vào tình yêu, mong đó có thể cứu rỗi mà xoá đi nỗi buồn. Liệu đây sẽ là một lựa chọn thành công chăng? “Động phòng hoa chúc dạ” đã từng được xem là cái hạnh ngộ lớn thứ ba trong mỗi kiếp người trần thế:

Cửu phùng cam vũ lộ

Tha hương ngộ cố tri

Động phòng hoa chúc dạ

Kim bảng quải danh đề

Thế nhưng, hai chữ sầu xuânmở đầu bài thơ và cũng chính là nó lại kết thúc bài thơ. Con người rốt cục đã nâng được chén rượu xuân,“trốn” vào buồng xuân, có thuyền quyênkề bên mà vẫn không thoát khỏi nỗi sầu xuân. Sự bế tắc này đâu chỉ của Hàn Mặc Tử mà còn của cả một thế hệ thi nhân thời đó. Hoài Thanh đã nói hộ chúng ta về điều này: “Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu liêu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng cùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng chợt tỉnh, đắm say vẫn bơ vơ, ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận. Cả trời thực, trời mộng vẫn nao nao theo hồn ta”. ( Một thời đại trong thi ca, Thi nhân Việt Nam)…

Sầu xuânkhép lại nhưng dư âm của nó vẫn làm ta vương vấn. Thi phẩm đã thực sự chinh phục người đọc bằng cấu tứ đẹp, bất ngờ, bằng ngôn từ gợi cảm và các hình ảnh giàu chất thơ. Tất cả nằm trong hệ thống ẩn dụ ở cấu trúc bề sâu của thi phẩm nhằm toát lên chủ đề chính: nỗi buồn và sự cô đơn. Nhưng chính nỗi buồn và sự cô đơn ấy lại ẩn giấu một tình cảm dân tộc, một tình cảm được các nhà thơ lãng mạn đã thể hiện theo cách riêng của mình. Xin được mượn lại lời của cố Tổng bí thư Trường Chinh kết thúc cho bài viết nhỏ này: “Các tầng lớp tư sản dân tộc và tri thức tiểu tư sản Việt Nam tìm thấy ở chủ nghĩa lạng mạn một tiếng thở dài chống chế độ thuộc địa”.

Tài liệu tham khảo

1. Nghệ thuật thi ca, Aristôt, H, 1964.

2. Ngôn ngữ thơ,Nguyễn Phan Cảnh, h, 2000.

3. Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Hữu Đạt, H, 1996.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.