Những thuốc nào phải kiêng uống rượu
Những loại thuốc này cần được chú ý:
- Thuốc chống động kinh (phenytoin), thuốc chống đông máu (warfarin), thuốc chống đái tháo đường (tolbutamid):rượu sẽ làm giảm từ 1/3 đến ½ hàm lượng thuốc hấp thu vào huyết tương nên sẽ làm giảm hiệu lực của thuốc.
- Paracetamol:rượu làm tăng tác dụng của các men chuyển hóa thuốc này thành chất acetyl benzoguinoneimin, độc hại cho gan.
- Thuốc an thần, thuốc ngủ, thuốc chống trầm cảm, thuốc giảm đau có Opi, thuốc chống loại thần, thuốc chống động kinh, thuốc kháng histamin H 1:rượu sẽ cộng hợp tác dụng trên thần kinh trung ương, làm tăng tác dụng ức chế thần kinh trung ương của các thuốc này.
+ Barbiturat:rượu sẽ cộng hợp tác dụng, làm tăng tác dụng ức chế thần kinh trung ương và tác dụng này còn kéo dài tới ngày hôm sau.
+ Benzodiazepin:rượu sẽ làm tăng tác dụng ức chế thần kinh của benzodiazepin, nhưng ít hơn các thuốc an thần khác.
+ Buspiron HCl(chống lo âu): rượu sẽ làm tăng tác dụng ức chế thần kinh trung ương và làm tăng huyết áp.
+ Butyrophenon(như Haloperidol): rượu làm tăng tác dụng ức chế thần kinh trung ương.
- Thuốc chống trầm cảm loại 3 vòng:rượu làm tăng tác dụng ức chế thần kinh trung ương, gây ngủ, làm giảm khả năng thực hiện những hành động liều lĩnh.
- Thuốc hạ huyết áp(như thuốc ức chế men chuyển, các nitrat, thuốc chẹn alpha, thuốc chẹn beta…): rượu gây hạ huyết áp thể đứng, gây choáng váng và ngất xỉu ngay sau khi uống rượu. Nhưng nếu uống nhiều và đều đặn thì lại tăng huyết áp, gây chảy máu đường tiêu hóa.
- Aspirin và salicylat:tác dụng phối hợp giữa rượu và aspirin sẽ gây kích ứng, gây hại cho niêm mạc dạ dày, gây chảy máu đường tiêu hóa.
- Thuốc chống đái tháo đường:rượu làm tăng tác dụng hạ đường huyết, có thể dẫn tới hôn mê do hạ đường huyết.
Rượu gây hạ đường huyết, nên nói chung trong bệnh đái tháo đường, không được uống nhiều rượu, nhưng trong việc quản lý chế độ ăn kiêng của bệnh nhân đái tháo đường lại liên quan tới số lượng Calo do rượu cung cấp.
+ Metformin:rượu sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm axit lactic, đặc biệt khi đói hoặc thiếu dinh dưỡng.
+ Insulin:rượu làm tăng tác dụng hạ đường huyết có thể dẫn tới hôn mê.
- Disulfiram và các chất giống disulfiram:
+ Chất này ức chế oxy hóa rượu để hình thành các acetaldehyd. Lợi dụng tính chất này người ta dùng chất disulfiram để làm chất cai nghiện rượu, mà biệt dược có tên là Antabuse. Khi dùng chất này, nểu uống rượu thì 5 - 10 phút sẽ tháy mặt đỏ bừng, nhức đầu, hạ huyết áp, đánh trống ngực, buồn nôn, rất khó chịu, gây cảm giác sợ rượu (Hội chứng cai rượu).
+ Metronidazol:cũng tác dụng như disulfiram sẽ ức chế andehyd dehydrogenase, có tác dụng chuyển acetaldehyd thành CO 2và H 2O sẽ gây tích tụ acetaldehyd trong cơ thể. Do đó, bệnh nhân dùng Metronidazol không được uống rượu kể cả 48 giờ sau khi ngưng thuốc. Hiện tượng trên xảy ra cả ở phụ nữ đặt metronidazol ở âm đạo, nhưng cũng hãn hữu.
+ Cephalosporin:hiện tượng trên cũng xảy ra nhưng chỉ ở cephalosporin dạng tiêm. Do đó khi tiêm thuốc này phải kiêng rượu.
- Thuốc ức chế MAO(monoaminoxydase): như iproniazid, isocarboxazid, mebanazin, tyranmin có trong một vài loại rượu cũng gây cơn bão huyết áp.
- Thuốc chống lao(rifampicin): rượu làm tăng nguy cơ nhiễm độc gan, gây độc tính cho gan.
Do đó khi có bệnh, bác sĩ thườngxuyên kiêng rượu, bia và thức uống có cồn là có lý do vững vàng, bệnh nhân nên tuân thủ nghiêm chỉnh.







