Những phát hiện mới và độc đáo về nữ tài Bùi Thị Hý
Sản phẩm thứ hai của nghệ nhân Bùi Thị Hý, có niên đại tuyệt đối
Chúng tôi vẫn hy vọng, một ngày nào đó, tìm được tiêu bản thứ hai có dòng chữ tương tự. Niềm hy vọng đó đã thành hiện thực. Ngày 16 - 5 - 2007, chúng tôi nhận được một con nghê, bằng đất nung, màu đen, dài 27 cm, cao 22 cm, đế rộng 6,5 cm, thân dày 8 cm, phần dưới có một lỗ chữ nhật. Hiện vậy do hậu duệ của dòng họ Bùi tìm được vào ngày 18 - 4 - 2007, ở một lò gốm do Bùi Thị Hý xây dựng năm Thái Hoà thập niên (1452). Đây là vật trang trí, thường gắn trên bờ đao công trình kiến trúc cổ. Phía đuôi cổ vật có dòng chữ, khắc chìm chân phương:
Quang Thuận nhất niên, Quang Ánh trang, Bùi Thị Hý tạo (Tác phẩm do Bùi Thị Hý tạo, tại trang Quang Ánh, vào năm Quang Thuận thứ nhất (1460).
Hiện vật tương tự như vậy, chúng tìm được khá nhiều trong các hố khai quật tại ChuĐậu (Nam Sách), Làng Cậy (Bình Giang). Những loại hình khác, có tên tác giả và niên đại cùng tìm thấy nhiều, nhưng trên một con nghê bằng gốm ở TK XV thì đây là lần đầu tiên. Nếu bình gốm ở Thổ Nhĩ Kỳ là một bằng chứng về tài vẽ hoa văn trên đồ gốm, ở tuổi 30, thì tác phẩm này xác định tài năng tạo hình của bà ở tuổi 40.
Trên vai bình gốm hoa lam lưu ở Thổ Nhĩ Kỳ, có chữ: Tượng nhân Bùi Thị Hý bút. Ở hiện vật này có chữ: Bùi Thị Hý tạo. Dù dưới chế độ phong kiến và ảnh hưởng của Nho giáo, vai trò người phụ nữ Việt Nam vẫn được trọng thị ở mức độ nhất định, điều mà một số nước láng giềng đương thời không dễ có, đồng thời cũng thể hiện bản lĩnh của nữ tác giả.
Việc tìm ra con nghê có niên đại tuyệt đối đầu tiên, không chỉ làm rõ thêm tài năng nghệ nhân Bùi Thị Hý mà còn giúp các nhà khoa học có tiêu bản đối chứng để xác định những hiện vật có hình thức và chất liệu tương tự.
Sản phẩm thứ ba của Bùi Thị Hý - Một tiêu bản quý hiếm về gốm
Ngày 10 - 7 - 2007, chúng tôi nhận được một đĩa gốm, sản xuất ở TK XV, theo truyền thống Chu Đậu (Nam Sách), nhưng lại làm ở lò Quang Ánh (Gia Lộc). Đây là một phế phẩm, vì nung thiếu lửa, nên sống men, có lẽ vì thế mà còn tại nơi sản xuất.
Đĩa có đường kính 14 cm, chân cao 0,7 cm, tạo dáng một bông hoa 12 cánh, hoa văn khắc chìm theo truyền thống Lý - Trần. Giữa đáy có bông hoa 9 cánh, trong đường tròn đường kính 9cm. Trên sườn đĩa khắc hoa cúc liên hoàn, rất tinh tế, tỉa kỹ đến từng gân hoa lá. Xương gốm vàng nhạt, men chưa chín nên thô ráp, vàng sáng, chưa thể phản quang. Phần ngoài để trơn. Trôn quét son nâu nhạt. Đĩa loại này nếu nung chín sẽ có mầu xanh ngọc rất dễ nhầm với gốm Trần. Hiện vật tương tự cũng đã tìm thấy ở ChuĐậu, nhưng chỉ là những mảnh vỡ. Đặc biệt ở hiện vật này là dưới trôn, khắc chìm 18 chữ, quanh chân đĩa chân phương, có khoảng cách đều nhau:
Diên Ninh nhất niên, Gia Phúc huyện, Quang Ánh Trang, tỷ Bùi Thị Hý, đệ Bùi Khởi tạo(chị là Bùi Thị Hý, em là Bùi Khởi tạo (sản phẩm này) tại trang Quang Ánh, huyện Gia Phúc, vào năm Diên Ninh thứ nhất (1454)).
Về tự dạng, chữ gia ở đây đã viết giản lược, làm cho nghĩa khác đi. Theo gia phả dòng họ Bùi Quang Ánh thì Bùi Khởi là em ruột Bùi Thị Hý, sinh năm Quý Mão (1423) thời Bình Định vương Lê Lợi. Năm Thái Hoà thập niên (1452), Đặng Sĩ, Bùi Thị Hý về Quang Ánh dựng lò cùng với em, ở bắc trang để tạo sản phẩm kết hợp xuất khẩu với Chu Đậu. Hiện vật này chứng minh rằng, sau 2 năm xây dựng, lò Quang Ánh đã tạo ra những sản phẩm xuất sắc về dáng và hoa văn. Cái không may ở TK XV lại trở thành cái may mắn của hôm nay. Nếu sản phẩm nung hoàn hảo thì chắc chắn không còn ở nơi sản xuất. Dù hiện vật sứt một miếng nhỏ ở miệng vẫn là một tiêu bản vô giá, vì nó có tác giả, niên đại địa điểm sản xuất. Hơn thế, tác giả ở đây lại là một trí thức người Việt, có tiểu sử rõ ràng. Đây là hiện vật hy hữu, có đầy đủ tiêu chí cần để nghiên cứu gốm cao cấp ở TK XV, tại nơi sản xuất. Như vậy đến nay, chúng ta đã biết 3 tiêu bản, có niên đại tuyệt đối, địa điểm và tên tác giả Bùi Thị Hý, thể hiện trên 3 loại khác nhau: vẽ, khắc, nặn. Như vậy là đủ để chúng ta khẳng định về một tài năng cách chúng ta 550 năm.
Tìm ra bia mộ chí của nghệ nhân Bùi Thị Hý, sao trên một mâm đồng
![]() |
| Đĩa gốm lò Quang Ánh (mặt dưới). |
![]() |
| Đĩa gốm lò Quang Ánh (mặt trong). |
Phiên âm:
Tiền diện thạch bi
Bùi Thị Hý, kỳ tài phu nhân chi mộ.
Cảnh Thống Nhâm Tuất niên, thập nguyệt, sơ nhất nhật, phu quân Đặng Phúc lập.
Phu nhân sinh ư Bình Định vương, Canh Tý niên, tại Quang Ánh trang, Gia Phúc huyện.
Thọ chung Cảnh Thống, Kỷ Mùi niên, bát nguyệt, thập nhị nhật, mộ tại Thượng Đường.
Hậu diện thạch bi
![]() |
| Mâm đồng gia bảo của họ Đặng. |
Bảo Đại Nhâm Thân, mạnh xuân, chính nguyệt, lý trưởng Bùi Đức Nhuận sao y cổ thạch bi.
Chú dẫn: đảo thời, cổ thạch bi tổ cô tàng huyệt địa linh, tịnh cấm.
Bản dịch:
Mặt trước bia đá:
Một người vợ kỳ tài họ Bùi, tên huý là Hý.
Hai dòng bên phải bia ghi: ngày 10 tháng 10 năm Cảnh Thống Nhâm Tuất (1502), phu quân (chồng) là Đặng Phúc lập bia.
Phu nhân, sinh năm Canh Tý (1420), thời Bình Định vương (Lê Lợi)
Dòng bên phải bia ghi: Mất ngày 12 tháng 8 năm Cảnh Thống Kỳ Mùi (1499)
Mặt sau bia đá:
Bùi Thị Hý, người vợ kỳ tài, hiệu là Vọng Nguyệt, là con gái trưởng của quan Mã vũ Bùi Định Nghĩa, cháu ba đời lão tướng Bùi Quốc Hưng. Phu nhân có tài văn chương, chữ viết đẹp, lại có kỳ tài về vẽ, từng cải trang đi thi Đại khoa đến kỳ thứ ba, khoa Nhâm Tuất, năm Đại Bảo thứ ba (1442), quan trường (phát giác), kỷ luật, đuổi khỏi trường thi. Sau bèn xuất giá, cùng Đại chủ phu quân Đặng Sĩ, làm nghề nung sành sứ, tại trang Chu, châu Nam Sách. Năm Thái Hoà thứ 10 (1452), bà về trang Quang Ánh, cùng em trai là Bùi Khởi, chiêu tập người làm thuê, dựng lò, ở phiá bắc trang, gần sông Định Đào, buôn bán với châu Nam Sách, chế đồ gốm, cống triều đình đương thời và xuất cho thương nhân nhiều nước như: Nước Nhật, Trung Quốc, và phương Tây. Sau Đặng Sĩ cùng những người làm thuê gặp nạn, chết ở biển Đông. Phu nhân tái giá, lấy Đại gia Đặng Phúc, người trang Chu(Đậu). Phu nhân là một trang nữ tài võ, thông văn, làm chủ thương đoàn (đi) Nhật Bản, Trung Quốc, phương Tây, đến nước ngoài buôn bán đặc phẩm (gốm sứ). Thật buồn thay, phu nhân kỳ tài làm bình gốm mà lại không con. Sau về trang Quang Ánh, hưng công làm chùa, đình làng, làm thí chủ xây dựng nhà thờ họ; hưng công bắc cầu đá Đôn Thư, Lâm Kiều (ở bản huyện). Đến đêm, ngày 12 tháng 8 năm Kỷ Mùi (1499), trời đất cuồng phong, mưa gió, sấm chớp. Lạ thay, phu nhân nằm trong bình phong mà phát ra ánh sáng hồng như con rồng bay lên. Đoạn phu nhân hoá. Sau rất thiêng, ai có tâm cầu cúng, tất hiển ứng.
Cảnh Thống, ngày 10 tháng 10 năm Nhâm Tuất (1502), chồng là Đặng Phúc soạn (văn bia).
Lý trưởng Bùi Đức Nhuận, sao y bia đá cổ, tháng giêng, đầu xuân, năm Bảo Đại, Nhâm Thân (1932).
Chú dẫn: khi thời thế thay đổi, bia đá cổ huyệt Tổ cô giữ ở đất thiêng, cấm chỉ mọi vi phạm.
Xem xét văn cảnh, có thể biết, khi sao tấm bia này vào mâm đồng, bia đá tại huyệt địa vẫn còn, nơi ấy là xứ Thượng Đường của bản xã. Vì vậy mới chú dẫn rằng: “ khi thời thế thay đổi, bia đá cổ huyệt Tổ cô giữ ở đất thiêng, cấm chỉ mọi vi phạm”. Hy vọng, nay vẫn có khả năng tìm được bia gốc và phần mộ.
![]() |
| Đĩa hoa lam ở Bảo tàng Adelaide. |
- Về năm sinh, năm mất được khẳng định như trong gia phả (1420 - 1499).
- Về năm cải trang ứng thí tiến sĩ, chúng tôi dự đoán có thể là khoa Đại Bảo thứ 3 (1442), khoa Nguyễn Trãi, tham gia độc quyển. Dự đoán này cũng được văn bia khẳng định.
- Bà là người có biệt tài về hoạ, nhưng ở ChuĐậu bà đứng vào hàng thứ mấy thì chưa rõ. Văn bia cho biết, bà là người đứng đầu.
- Gia phả chỉ cho biết bà lấy Đại gia Đặng Sĩ, còn sau đó thế nào không rõ. Bia cho biết, Phu quân Đặng Sĩ một lần chỉ huy đoàn tầu vượt biển buôn bán, gặp nạn, chết ở biển đông cùng với thuỷ thủ đoàn (thương nô). Sau đó bà tái giá lấy ông Đặng Phúc, cũng là một Đại gia, người ChuĐậu. Bà trở thành chủ thương đoàn, vượt biển buôn bán với tam phiên: Trung Quốc, Nhật Bản và Tây phương, thường đến các nước để buôn và bán đặc phẩm, tiêu biểu là đồ gốm. Chi tiết này vô cùng quan trọng về ngoại thương của Việt Nam ở thế kỷ XV. Khi nghiên cứu gốm Chu Đậu, nhiều học giả thường nghĩ rằng, thuyền buôn nước ngoài đến đặt hàng ở Chu Đậu, rồi họ tự chở đi các nước, ít khi nghĩ đến việc các thương nhân Việt Nam, từng vượt biển chở hàng ra nước ngoài để giao thương, không thụ động chờ thương nhân nước ngoài. Trước đây, khi nghiên cứu những sản phẩm gốm Chu Đậu có hình ảnh tầu vượt biển, chúng tôi thường nghĩ rằng, đó là những hình ảnh do thuỷ thủ nước ngoài kể lại những hình ảnh thường gặp của hành trình trên biển cho thợ gốm Việt Nam nghe, sau đó các nghệ nhân tưởng tượng ra, rồi vẽ lại trên đồ gốm để kỷ niệm. Qua tư liệu này, có thể nói, đó là hình ảnh trực quan của thuỷ thủ và thương nhân Việt Nam trên đường vượt biển, buôn bán với nước ngoài, trong đó có nghệ nhân Bùi Thị Hý, sau đó họ vẽ lại không chỉ để kỷ niệm mà còn cảnh tỉnh những người sau. Điển hình là một đĩa hoa lam, đường kính 36 cm, hiện lưu giữ trong một sưu tập ở Adelaide, Namúc. Lòng đĩa vẽ 2 thuyền lớn, trên đường vượt biển, gặp gió lớn, buồm đã hạ xuống, trên mặt sóng xô dữ dội, có 3 thuỷ thủ rơi xuống nước, trong đó có một người đang bị một con cá khổng lồ đã nuốt đến thắt lưng.
Nhật Bản, Trung Quốc là những thị trường truyền thống, còn Tây phương là một điểm mới ở TK XV. Phương Tây trong văn bia có thể là các nước thuộc Đông Nam Á, Tây Á và Trung Đông, vì ở đây có khá nhiều gốm Chu Đậu ở TK XV – XVI, nhưng phương Tây với không gian hiện đại thì vấn đề này cần phải nghiên cứu tiếp. Từ nguồn tư liệu trên, chúng ta có thể nghĩ đến một lúc nào đó, tình cờ lại phát hiện những tư liệu về ngoại thương ở nước ngoài mà các đại thương gia của Việt Nam đã đến, trong đó có Đặng Sĩ và Bùi Thị Hý ở TK XV. Chúng ta đã biết, hiện nay ở Thư viện Hoàng gia nước Anh còn lưu giữ trên 1.200 trang nhật ký buôn bán với Phố Hiến ở TK XVII, vậy nhật ký buôn bán với Chu Đậu ngót 2 TK có khả năng vẫn còn trong kho lưu trữ nước ngoài ở đâu đó, chỉ có điều, chúng ta chưa có điều kiện nghiên cứu mà thôi.
- Với một phụ nữ mà người chồng thứ hai đã phải viết vào bia mộ là: kỳ tài phu nhân; tài võ, thông vănthì đó là một nhân vật phi thường. Một võ tướng, chỉ huy các đoàn thuyền buôn trên biển của Việt Nam đến các nước ở TK XV đã hiếm, đây lại là một phụ nữ. Chỉ một điểm này thôi cũng đủ tôn vinh Bùi Thị Hý là một doanh nhân hàng hải kiệt xuấtcủa Việt Nam ở TK XV. Tất nhiên chúng ta còn phải nghiên cứu kỹ hơn để khẳng định vấn đề này. Tự hào thay phụ nữ Việt Nam .
Bia mộ chí này chỉ viết là Chutrang không có chữ Đậu. Như vậy, năm 1502, Chu Đậu mới chỉ có tên là Chu trang, mà Chuở đây là thuyền, về sau thêm chữ Đậu, chữ Đậu ở đây có thể viết là nơi dừng lại, như vậy hoàn toàn phù hợp với địa lý và lịch sử. Phía bắc làng Chu Đậu xưa, có sông Kè Đá, nối liền với sông Thái Bình, mà Thái Bình là một chi lưu lớn nhất của Lục Đầu giang, thông thương với biển Đông thuận tiện. Đây là đường vận chuyển nguyên vật liệu và xuất khẩu sản phẩm của làng gốm mỹ nghệ này gần 2 TK. Đầu thế kỷ XVIII, Chu Đậu đã được mỹ tự hoá, không còn mang nguồn gốc của một bến thuyền nữa.
- Về văn bản học, độ tin cậy đến mức nào? Căn cứ hiện vật, thì có thể xác định đây là chiếc mâm đồng ra đời từ đầu thế kỷ XX, văn bản được khắc trên mâm vào dịp sao lại gia phả (1932). Việc khắc văn bia mộ chí vào mâm đồng không phải lần đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam, mà từ thời Thượng Chu ở Trung Quốc (TK IX Trước CN), người ta đã ghi tiểu sử nhà vua thứ năm nhà Chu vào một mâm đồng, chôn trong huyệt mộ, người Trung Quốc gọi là Bản sử (sử viết trên mâm). Di vật này đã được phát hiện vào năm 1976 ở Trung Quốc. Vấn đề cần quan tâm là bản sao bia có y như bản chính không? Sau khi nghiên cứu văn bản, chúng tôi nhận thấy, về nội dung là chính xác, chỉ có tự dang một vài chữ sai chính tả, như Phu quân - Người chồng, viết thành người giúp việc cho quân đội và một số chữ khác. Những sai sót này tương tự như trong gia phả. Có thể nói, cuốn gia phả họ Bùi Quang Ánh, viết năm Minh Mệnh Nhâm Thân (1832), đã lấy một phần tư liệu trong tấm bia này. Một số chữ Nôm, như chữ: nung sành sứ, cháu… có thể cách viết chữ Nôm ở đầu thế kỷ XVI, cũng có thể khi sao đã chuyển từ chữ Hán. Vấn đề này cần được xác minh khi tìm được bản gốc.
Việc phát hiện bản sao bia mộ chí Phu nhân Bùi Thị Hý, cùng với những hiện vật do bà sáng tạo vào giữa TK XV, là một phát hiện quan trọng, có tầm cỡ quốc gia, không chỉ cho chúng ta hiểu thêm về tiểu sử của Phu nhân, mà điều quan trọng hơn là việc giao thương trên biển của Việt Nam với các nước khu vực và phương Tây ở TK XV, đặc biệt là vai trò người phụ nữ đương thời. Bùi Thị Hý phải là một người tài năng và bản lĩnh phi thường mới có thể ghi tên lên tác phẩm của mình, vượt lên dư luận để lấy tiếp người chồng thứ hai. Hy vọng, trong tương lai gần, còn có thể phát hiện những di vật và tư liệu quan trọng về sự kiện này, qua đó sẽ sáng tỏ hơn.












