Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 09/12/2010 18:28 (GMT+7)

Nhân tố ảnh hưởng đến mức ăn được của lợn nái trong thời kỳ tiết sữa

Về cơ chế sinh vật học

Sữa lợn mẹ cung cấp 75% tổng nhu cầu năng lượng (NL). Glucose là chất dinh dưỡng chuyển hóa quan trọng nhất trong quá trình sinh sữa (70% tổng lượng glucose do tuyến vú sinh ra). Trong 7 ngày đầu tiên tiết sữa, mức ăn được thường không đáp ứng đủ nhu cầu NL, vì vậy mỡ dự trữ của cơ thể được huy động (có thể đạt hiệu quả sử dụng đến 88%). Nhu cầu về NL trong ngày tiết sữa đầu tiên khoảng 10.000 – 12.000 kcal ME/ ngày, ngày tiết sữa thứ 14 – 18 tăng lên 18.000 – 20.000 kcal ME/ ngày. Tốc độ sinh trưởng của lợn con phụ thuộc vào năng suất và thành phần sữa mẹ. Lợn con cần khoảng 4g sữa để tạo ra 1 g tăng trọng. Như vậy, cần có 10 kg sữa/ ngày để đạt mức tăng trọng ngày là 2,25 kg/ ổ (ví dụ 10 lợn con, mỗi con 250 g/ngày).

Tổng nhu cầu lysine là 26 g/ngày (để đạt tốc độ sinh trưởng 1 kg/ổ/ ngày). Nếu ổ có 10 lợn con, cần 58,5 g/ngày, nhu cầu cho duy trì của lợn mẹ khoảng 2,5 g/ngày, như vậy tổng nhu cầu lysine ăn vào cần 61 g/ngày. Nếu không đủ lysine, sẽ huy động từ protein của cơ thể. Lợn đẻ lứa đầu cần đủ lysine để đáp ứng nhu cầu tiếp tục phát triển mô cơ của mẹ. Nếu thiếu lysine trong lứa sữa đầu, sẽ hao hụt protein trong cơ thể (gây chậm động dục lại sau đẻ, giảm số con sinh ra/ ổ ở lứa đẻ sau). Hao hụt protein cơ thể trong tuần đầu sau đẻ có thể chiếm 45% tổng mức protein được huy động trong toàn kỳ tiết sữa nuôi con. Vì vậy, rất cần giúp cho lợn đẻ lứa đầu tăng mức ăn được sau đẻ. Cần cho lợn ăn mức NL cao để sử dụng tối đa mức lysine cao trong khẩu phần (KP) dành cho lợn đẻ lứa đầu đang nuôi con (với những ổ 10 lợn con, có thể gửi bú nhờ). Tăng thêm mức ăn được 1 kg/ngày (ví dụ 4,5 kg – 5,5 kg/ngày) cho lợn nái đẻ lứa đầu có thể tăng thêm 1 lợn con. ổ cho lứa đẻ thứ hai).

Lượng chất dự trữ của cơ thể (cả protein để tạo mô và mỡ lưng) lúc lợn đẻ và cai sữa có tác động lớn đến năng suất sinh sản. Người ta cho rằng lợn nái cân nặng dưới 150 kg sẽ động dục lại chậm hơn 5 – 7 ngày so với những lợn có thể trọng cao hơn. Để bắt đầu một chu kỳ sinh sản mới, lợn nái cần có thể trạng “đồng hóa” béo tốt vừa phải. Yếu tố gây ảnh hưởng xấu nhất đến mức ăn được khi nuôi con là cho lợn nái ăn quá nhiều khi có chửa (lợn béo phệ) và nhiệt độ trong chuồng nuôi lợn đẻ và stress chuyển hóa. Để chống táo bón, cần cung cấp đủ nguồn chất xơ giữ nước, cung cấp nước có chất lượng tốt và cân bằng khoáng.

- Đẻ: thời gian đẻ thường là 20 – 30 phút. Nếu đẻ khó (cơ dạ con co bóp kém, táo bón, sốt, uống ít nước, glucose huyết thấp, viêm vú): lợn mẹ mát sức, giảm mức ăn được.

- Với lợn chửa: tăng trọng nhiều sẽ tăng hao mòn cơ thể, giảm mức ăn được khi nuôi con. Lượng mỡ tăng khi chửa sẽ được huy động khi nuôi con nên làm giảm mức ăn được. Nái khi đẻ có mỡ lưng dày (> 25 mm): giảm mức ăn được 2,5 – 5,0% so với nái nhiều nạc (18 – 20mm).

- Với lợn con: xử lý lợn con ngày đầu sau sinh: làm trở ngại việc bú của chúng và tập tính mẹ: con (có thể giảm mức ăn được của lợn mẹ ngày đầu tiết sữa nuôi con).

- Tuổi cai sữa: khả năng tiết sữa cao nhất vào ngày 18 – 21. Cai sữa trước thời gian này sẽ giảm mức ăn được và giảm tiết sữa (lợn mẹ cai sữa con sớm có mức ăn được bình quân thấp).

- Chuồng nuôi: chuồng không có đệm lót là bất tiện. Sàn chuồng có những thanh lát thưa làm tăng hiện tượng hút gió, lợn bị lạnh do gió lùa. Nhiệt độ chuồng thích hợp cho lợn nái: 15 – 24 độ C, cho con sơ sinh: 29 – 35 0C và giảm 1/2 kg/ngày khi tăng 1 0C kể từ 24 0C trở đi. Lợn không tiết mồ hôi (thải nhiệt bằng đối lưu và bốc hơi). Cần làm ẩm da bằng phun sương hoặc nước nhỏ giọt. Làm mát mõm lợn nái khi nhiệt độ chuồng cao. Ánh sáng: lợn tiếp xúc ánh sáng ≥16 giờ/ngày: tăng mức ăn được.

- Người đỡ đẻ: Cần được luyện kỹ cả về lý thuyết lẫn thực hành nhằm bảo đảm có kiến thức và tay nghề giỏi huấn để đạt được mục tiêu của phòng đỡ đẻ.

- Khả năng thu nhận nước: Lợn nái nuôi con cần 25 – 45 lít nước/ ngày hoặc 4 – 8 lít/ kg thức ăn (sữa có đến 80% nước). Nước uống phải được loại bỏ nito, khoáng chất và các chất độc. Uống nước sạch, uống thoải mái giúp cho lợn nái đạt được mức ăn được tối đa. Giữ cho nước có nhiệt độ 20 0C.

- Nước chảy: lợn nái thích uống những ngụm nước lớn trong máng. “Cho uống có điều kiện” bằng cách chọn cho lợn nái uống trong máng 2 – 3 lần/ ngày sẽ tăng mức ăn được. Tốc độ dòng chảy của nước nên đạt 1,5 – 2,0 lít/ phút nếu dùng núm uống. Theo dõi mức nước uống được là một biện pháp quản lý tốt.

- Chất lượng nước: mức uống được bị hạn chế nếu nước hoặc chén uống bẩn, có hàm lượng chất khoáng hoặc vi khuẩn/ độc tố cao. Hệ thống cấp nước cần được thông rửa, vệ sinh định kỳ.

- Tầm vóc cơ thể: có ảnh hưởng đến mức ăn được. Lợn nái bé, gầy, lợn đẻ lứa 1 có thể ăn ít thua 15 – 20% so với lợn to con, lợn béo hoặc lợn già đã đẻ nhiều lứa.

- Số lợn con bú: số lượng lợn con bú có tác động đến sản lượng sữa. Phải cho lợn nái ăn thêm 250 – 500 g/ngày nếu tăng thêm 1 lợn con trong ổ (trên cơ sở 8 lợn con/ ổ).

Kết luận

1.       Dùng KP riêng cho lợn nái đẻ lứa 1 và lợn nái gầy đang nuôi con.

2.       Cho lợn ăn nhiều bữa để kích thích sự thèm ăn của lợn nái nuôi con.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

5 nhà khoa học của Liên hiệp Hội Việt Nam được tôn vinh “Nhà khoa học của Nhà nông” năm 2026
Sáng 2/10/2026, tại Hà Nội, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tổ chức Chương trình tôn vinh “Nhà khoa học của Nhà nông” lần thứ VII và trao giải Cuộc thi “Sáng tạo kỹ thuật Nhà nông” toàn quốc lần thứ XI năm 2026. Trong số 42 cá nhân được tôn vinh năm nay có 5 nhà khoa học do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam giới thiệu.
Thanh Hoá: Kinh tế tuần hoàn, tín chỉ Carbon và mô hình sản xuất không phát thải
Ngày 30/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội) phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Hồng Đức và Viện Nông nghiệp Thanh Hóa tổ chức Diễn đàn khoa học với chủ đề “Kinh tế tuần hoàn và tín chỉ Carbon - Phương pháp xây dựng mô hình sản xuất không phát thải tại Thanh Hóa”.
Đắk Lắk: Phát huy nguồn lực trí thức, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tỉnh
Trong giai đoạn 2026-2030, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) là yêu cầu quan trọng để Đắk Lắk khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế và các nguồn lực cho phát triển. Cùng với KHCN và CĐS, ĐMST cần được nhìn nhận không chỉ là hoạt động của các viện, trường hay doanh nghiệp công nghệ, mà là một phương thức tổ chức nguồn lực để giải quyết những bài toán phát triển cụ thể của địa phương.
Phú Thọ: Tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại xã Lạc Sơn
Ngày 25/9/2026, tại xã Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng (MACDI) cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức chương trình tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
Đại hội Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lần thứ VIII: GS.TS Nguyễn Văn Kim được bầu làm Chủ tịch
Ngày 30/9/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Hội; GS.TS Nguyễn Văn Kim được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.
Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.