Nhân tố ảnh hưởng đến mức ăn được của lợn nái trong thời kỳ tiết sữa
Về cơ chế sinh vật học
Sữa lợn mẹ cung cấp 75% tổng nhu cầu năng lượng (NL). Glucose là chất dinh dưỡng chuyển hóa quan trọng nhất trong quá trình sinh sữa (70% tổng lượng glucose do tuyến vú sinh ra). Trong 7 ngày đầu tiên tiết sữa, mức ăn được thường không đáp ứng đủ nhu cầu NL, vì vậy mỡ dự trữ của cơ thể được huy động (có thể đạt hiệu quả sử dụng đến 88%). Nhu cầu về NL trong ngày tiết sữa đầu tiên khoảng 10.000 – 12.000 kcal ME/ ngày, ngày tiết sữa thứ 14 – 18 tăng lên 18.000 – 20.000 kcal ME/ ngày. Tốc độ sinh trưởng của lợn con phụ thuộc vào năng suất và thành phần sữa mẹ. Lợn con cần khoảng 4g sữa để tạo ra 1 g tăng trọng. Như vậy, cần có 10 kg sữa/ ngày để đạt mức tăng trọng ngày là 2,25 kg/ ổ (ví dụ 10 lợn con, mỗi con 250 g/ngày).
Tổng nhu cầu lysine là 26 g/ngày (để đạt tốc độ sinh trưởng 1 kg/ổ/ ngày). Nếu ổ có 10 lợn con, cần 58,5 g/ngày, nhu cầu cho duy trì của lợn mẹ khoảng 2,5 g/ngày, như vậy tổng nhu cầu lysine ăn vào cần 61 g/ngày. Nếu không đủ lysine, sẽ huy động từ protein của cơ thể. Lợn đẻ lứa đầu cần đủ lysine để đáp ứng nhu cầu tiếp tục phát triển mô cơ của mẹ. Nếu thiếu lysine trong lứa sữa đầu, sẽ hao hụt protein trong cơ thể (gây chậm động dục lại sau đẻ, giảm số con sinh ra/ ổ ở lứa đẻ sau). Hao hụt protein cơ thể trong tuần đầu sau đẻ có thể chiếm 45% tổng mức protein được huy động trong toàn kỳ tiết sữa nuôi con. Vì vậy, rất cần giúp cho lợn đẻ lứa đầu tăng mức ăn được sau đẻ. Cần cho lợn ăn mức NL cao để sử dụng tối đa mức lysine cao trong khẩu phần (KP) dành cho lợn đẻ lứa đầu đang nuôi con (với những ổ 10 lợn con, có thể gửi bú nhờ). Tăng thêm mức ăn được 1 kg/ngày (ví dụ 4,5 kg – 5,5 kg/ngày) cho lợn nái đẻ lứa đầu có thể tăng thêm 1 lợn con. ổ cho lứa đẻ thứ hai).
Lượng chất dự trữ của cơ thể (cả protein để tạo mô và mỡ lưng) lúc lợn đẻ và cai sữa có tác động lớn đến năng suất sinh sản. Người ta cho rằng lợn nái cân nặng dưới 150 kg sẽ động dục lại chậm hơn 5 – 7 ngày so với những lợn có thể trọng cao hơn. Để bắt đầu một chu kỳ sinh sản mới, lợn nái cần có thể trạng “đồng hóa” béo tốt vừa phải. Yếu tố gây ảnh hưởng xấu nhất đến mức ăn được khi nuôi con là cho lợn nái ăn quá nhiều khi có chửa (lợn béo phệ) và nhiệt độ trong chuồng nuôi lợn đẻ và stress chuyển hóa. Để chống táo bón, cần cung cấp đủ nguồn chất xơ giữ nước, cung cấp nước có chất lượng tốt và cân bằng khoáng.
- Đẻ: thời gian đẻ thường là 20 – 30 phút. Nếu đẻ khó (cơ dạ con co bóp kém, táo bón, sốt, uống ít nước, glucose huyết thấp, viêm vú): lợn mẹ mát sức, giảm mức ăn được.
- Với lợn chửa: tăng trọng nhiều sẽ tăng hao mòn cơ thể, giảm mức ăn được khi nuôi con. Lượng mỡ tăng khi chửa sẽ được huy động khi nuôi con nên làm giảm mức ăn được. Nái khi đẻ có mỡ lưng dày (> 25 mm): giảm mức ăn được 2,5 – 5,0% so với nái nhiều nạc (18 – 20mm).
- Với lợn con: xử lý lợn con ngày đầu sau sinh: làm trở ngại việc bú của chúng và tập tính mẹ: con (có thể giảm mức ăn được của lợn mẹ ngày đầu tiết sữa nuôi con).
- Tuổi cai sữa: khả năng tiết sữa cao nhất vào ngày 18 – 21. Cai sữa trước thời gian này sẽ giảm mức ăn được và giảm tiết sữa (lợn mẹ cai sữa con sớm có mức ăn được bình quân thấp).
- Chuồng nuôi: chuồng không có đệm lót là bất tiện. Sàn chuồng có những thanh lát thưa làm tăng hiện tượng hút gió, lợn bị lạnh do gió lùa. Nhiệt độ chuồng thích hợp cho lợn nái: 15 – 24 độ C, cho con sơ sinh: 29 – 35 0C và giảm 1/2 kg/ngày khi tăng 1 0C kể từ 24 0C trở đi. Lợn không tiết mồ hôi (thải nhiệt bằng đối lưu và bốc hơi). Cần làm ẩm da bằng phun sương hoặc nước nhỏ giọt. Làm mát mõm lợn nái khi nhiệt độ chuồng cao. Ánh sáng: lợn tiếp xúc ánh sáng ≥16 giờ/ngày: tăng mức ăn được.
- Người đỡ đẻ: Cần được luyện kỹ cả về lý thuyết lẫn thực hành nhằm bảo đảm có kiến thức và tay nghề giỏi huấn để đạt được mục tiêu của phòng đỡ đẻ.
- Khả năng thu nhận nước: Lợn nái nuôi con cần 25 – 45 lít nước/ ngày hoặc 4 – 8 lít/ kg thức ăn (sữa có đến 80% nước). Nước uống phải được loại bỏ nito, khoáng chất và các chất độc. Uống nước sạch, uống thoải mái giúp cho lợn nái đạt được mức ăn được tối đa. Giữ cho nước có nhiệt độ 20 0C.
- Nước chảy: lợn nái thích uống những ngụm nước lớn trong máng. “Cho uống có điều kiện” bằng cách chọn cho lợn nái uống trong máng 2 – 3 lần/ ngày sẽ tăng mức ăn được. Tốc độ dòng chảy của nước nên đạt 1,5 – 2,0 lít/ phút nếu dùng núm uống. Theo dõi mức nước uống được là một biện pháp quản lý tốt.
- Chất lượng nước: mức uống được bị hạn chế nếu nước hoặc chén uống bẩn, có hàm lượng chất khoáng hoặc vi khuẩn/ độc tố cao. Hệ thống cấp nước cần được thông rửa, vệ sinh định kỳ.
- Tầm vóc cơ thể: có ảnh hưởng đến mức ăn được. Lợn nái bé, gầy, lợn đẻ lứa 1 có thể ăn ít thua 15 – 20% so với lợn to con, lợn béo hoặc lợn già đã đẻ nhiều lứa.
- Số lợn con bú: số lượng lợn con bú có tác động đến sản lượng sữa. Phải cho lợn nái ăn thêm 250 – 500 g/ngày nếu tăng thêm 1 lợn con trong ổ (trên cơ sở 8 lợn con/ ổ).
Kết luận
1. Dùng KP riêng cho lợn nái đẻ lứa 1 và lợn nái gầy đang nuôi con.
2. Cho lợn ăn nhiều bữa để kích thích sự thèm ăn của lợn nái nuôi con.








