Nhận diện tác động của biến đổi khí hậu đến hệ sinh thái rừng ngập mặn và nghề cá
Những tác động trực tiếp
Rừng ngập mặn (RNM) cùng với 2 hệ sinh thái biển-ven biển nhiệt đới điển hình (rạn san hô và thảm cỏ biển) quyết định phần lớn năng suất của toàn vùng biển. Có thể nói, RNM chính là cái nôi của nghề cá ven bờ (cả khai thác và nuôi trồng thuỷ sản ven bờ). Phần lớn các hoạt động của nghề cá được thực hiện ở vùng ven bờ đều có liên quan đến hệ sinh thái (HST) RNM. Nước biển dâng do tác động của BĐKH có thể làm cho diện tích RNM bị suy giảm. Do mất RNM số lượng sinh vật phù du và sinh vật đáy làm thức ăn cho các loài thuỷ sản giảm đáng kể. Theo ước tính, cứ 1 ha RNM trước đây có thể khai thác được từ 700-1000 kg thuỷ sản, nhưng hiện nay chỉ thu được 1/20 so với trước đây.
Mực nước biển dâng sẽ ảnh hưởng rất nặng tới nhiều địa phương ven biển. Nước mặn xâm nhập sâu vào nội địa, tiêu diệt nhiều loài sinh vật nước ngọt, 36 khu bảo tồn trong đó có 8 vườn quốc gia, 11 khu dự trữ thiên nhiên nằm trong diện tích bị ngập. Đây chính là cái nôi của nguồn lợi thủy sản, là nơi mà nguồn lợi tự nhiên, trong đó có nguồn lợi thuỷ sản được bảo tồn, sinh sôi và phát tán ra các vùng nước xung quanh. Điều này sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nghề khai thác thuỷ sản nội địa và ven biển thủ công và một số nghề khai thác khác. Đây là những nghề phần lớn được thực hiện bởi những cộng đồng ngư dân nghèo.
Ngoài ra, BĐKH sẽ làm ảnh hưởng đến các hệ sinh thái biển, biến động chủng loại, quần đàn và di cư cá biển, có khả năng sẽ làm thay đổi các bãi cá và ngư trường truyền thống. Nhiệt độ trên bề mặt nước biển ấm lên, nồng độ muối thay đổi sẽ làm nguy hại đến các rạn san hô, các thảm thực vật. Bằng chứng là nhiều rạn san hô chậm phát triển, các thảm thực vật như rong biển bị chết, trôi dạt vào bờ với khối lượng lớn. Các bãi cá nổi, các đáy ở khu vực tuyến bờ và lồng ở nhiều vùng biển có xu hướng ra xa dần. Mùa vụ cá cơm, cá ồ, cá thu, cá nục từ tháng 3 đến tháng 5 hàng năm tại các ngư trường bị thay đổi và xáo trộn trong những năm gần đây. Đồng thời, nước biển dâng cao có khả năng làm thay đổi hướng của dòng chảy, có thể làm thay đổi đường di cư của một số loài thuỷ sản quý hiếm.
BĐKH sẽ gây ra nhiều hiện tượng thời tiết bất thường: bão, nước biển dâng cao, triều cường, lũ lụt, lũ quét… không theo quy luật nên rất khó dự báo trước, sẽ gây thiệt hại lớn về người và tài sản cho các tàu thuyền khai thác thủy sản (KTTS) hoạt động trên biển.
Ảnh hưởng sự ấm lên của trái đất làm gia tăng nhiệt độ và những biến đổi thất thường của thời tiết đã làm ảnh hưởng đến vùng nuôi trồng thuỷ sản (NTTS). Sự tăng nhiệt độ có thể làm suy giảm sản lượng thủy sản trong các ao hồ. Khi nhiệt độ tăng lên làm cho hàm lượng oxy trong nước giảm mạnh vào ban đêm, do sự tiêu thụ quá mức của các loài thực vật thủy sinh, hoặc quá trình phân hợp chất hữu cơ, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của loài nuôi. Nhiệt độ tăng cao làm cho môi trường nước xấu đi, là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài vi sinh vật gây hại, là điều kiện phát sinh dịch bệnh trong các loài nuôi. Trong những năm gần đây, do môi trường vùng nuôi bị suy thoái kết hợp với sự thay đổi khắc nghiệt của thời tiết, đã gây ra hiện tượng tôm sú chết hàng loạt, như bệnh do nhóm vi khuẩn Vibrio gây ra, bệnh do virus. Các bệnh này thông thường xảy ra và lan truyền rất nhanh và rộng, khó chữa nên mức độ gây rủi ro rất lớn.
Tuy nhiên khi xét mọi khía cạnh khác, khi nước biển dâng diện tích biển của chúng ta có nhiều hơn, điều đó có nghĩa là diện tích nuôi trồng thuỷ sản mặn, lợ có thể được mở rộng. Tuy nhiên, lợi ích từ nuôi trồng là không lớn do môi trường nước để phục vụ hoạt động này đã bị suy thoái. Hơn nữa những thiệt hại mà mực nước biển dâng còn lớn hơn nhiều so với lợi ích của việc mở rộng các diện tích nuôi trồng thủy sản.
Nghề cá Việt Nam , đặc biệt là nghề cá quy mô nhỏ ven bờ với các loại ngư lưới cụ khai thác truyền thống và hàng triệu hộ gia đình đang sinh sống phụ thuộc vào là một trong những lĩnh vực nhạy cảm nhất và dễ bị tổn thương nhất trước tác động của BĐKH.
Các giải pháp ứng phó
BĐKH sẽ gây ra nhiều hiện tượng bất thường của thời tiết, làm ảnh hưởng lớn đến cuộc sống và những thiệt hại về con người và vật chất cho cộng đồng dân cư. Vì vậy, việc nâng cao nhận thức về tác hại của BĐKH cho mọi tầng lớp nhân dân là rất cần thiết, đặc biệt là cộng đồng dân cư ven biển và những người tham gia hoạt động nghề cá. Với phương châm phòng là chính, việc xây dựng dự báo chính xác, sớm và các chương trình ứng phó phù hợp với hiện tượng thay đổi khí hậu bất thường là yếu tố quyết định cho việc giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản của nhân dân do thiên tai gây ra.
Đối với hoạt động nghề cá, cần có nâng cao nhận thức cho mọi tầng lớp nhân dân về kiến thức phòng và đối phó với BĐKH có khả năng xảy ra tại địa phương mình. Xây dựng các phương án tái định cư cho các ngư dân, cơ sở hạ tầng ở vùng ven biển và cửa biển trong tỉnh đi sâu vào đất liền. Xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo bão lũ và nâng cấp hệ thống thông tin tìm kiếm cứu nạn, thông tin về ngư trường nguồn lợi. Xây dựng, nâng cấp các khu cảng cá và bến cá, khu neo đậu tàu thuyền tránh trú bão. Xây dựng các biển báo, dấu hiệu và hệ thống thông tin chỉ dẫn tàu ra vào các luồng lạch.
Tại các vùng biển ven bờ và vùng nước nội địa cần sớm xây dựng các chiến lược và cơ chế sử dụng các cơ cấu tư vấn đa lĩnh vực trong quản lý KTTS đồng thời với việc thực hiện phân vùng đi đôi với việc phân quyền quản lý, tạo điều kiện cho ngư dân có các lợi ích khác nhau tham gia vào quá trình quản lý và sử dụng nguồn lợi thuỷ sản (NLTS) theo mô hình đồng quản lý. Xây dựng giải pháp sinh kế cộng đồng, gắn trách nhiệm của người dân trong việc khai thác, bảo vệ NLTS và bảo vệ môi trường trong việc quản lý khai thác NTTS trên sông, hồ, đầm, phá.
Việc xác định vị trí nuôi phù hợp cũng có thể tránh được hiện tượng hạn hán kéo dài, mưa lũ, nồng độ muối trong ao hồ nuôi tăng hoặc giảm quá mức. Đồng thời, cần phải phát triển công nghệ sinh học có thể tạo ra một số loài nuôi có khả năng thích ứng tốt và rộng đối với một số yếu tố môi trường (nhiệt độ, độ mặn) như cá chua, cá rô phi. Đổi mới công nghệ phát triển nuôi lồng bè, chịu được sóng lớn. Xác định thời gian phù hợp cho các đối tượng cho mỗi vùng có thể tránh được sự thay đổi của thời tiết.
Tăng cường giám sát và quản lý chặt chẽ sự phát triển nghề KTTS ở các đầm, phá và vùng ven bờ với định hướng không đóng mới các loại tàu thuyền nhỏ và thuyền thủ công khi đến tuổi đào thải; tính toán số lượng tàu thuyền khi cần thiết cho từng đầm, phá và từng khu vực, bố trí và sắp xếp lại cơ cấu nghề nghiệp khai thác, chuyển dần một số lao động dư dôi sang các nghề khác như NTTS, dịch vụ… Các tàu thuyền KTTS phải giảm về số lượng một cách hợp lý nhưng phải nâng cao công suất, đồng thời phải được trang bị an toàn một cách đồng bộ để có thể vươn khơi khai thác xa bờ và bám biển dài ngày ở tất cả các ngư trường nhằm khai thác tốt tiềm năng, lợi thế của tỉnh và giảm áp lực khai thác ở các khu vực ven bờ. /c








