Nhận biết bệnh sởi
Tại Việt Nam, tháng 2 – 2009, đã ghi nhận 505 trường hợp sởi được báo cáo ở 12 tỉnh miền Bắc, trong đó Hà Nội có 160 trường hợp.
Sởi là bệnh nhiễm siêu vi toàn thân cấp tính có phát ban ngoài da, lây qua đường hô hấp. Khi người bệnh ho hoặc hắt hơi đã phóng thích siêu vi sởi vào trong không khí hoặc bám dính trên bề mặt các vật dụng, số virus này có thể lây nhiễm đến hai giờ sau đó.
Người mắc bệnh sởi lây cho người khác từ 4 ngày trước khi phát ban và kéo dài đến 4 ngày sau khi đã phát ban toàn thân. 90% những người chưa tiêm chủng sẽ mắc bệnh nếu trong nhà có người bệnh.
Nhận biết bệnh sởi
- Chưa tiêm ngừa sởi.
- Trước khi mắc bệnh khoảng 10 – 14 ngày có tiếp xúc với người mắc bệnh sởi.
- Triệu chứng khởi đầu có sốt cao 40 – 41 0C, người bệnh mệt mỏi nhiều, sổ mũi, nghẹt mũi, hắt hơi, ho khan kéo dài, đau họng. Kết mạc mắt đỏ, sưng, sợ ánh sáng, kèm nhèm nhiều nước mắt.
Hạt Koplik là biểu hiện đặc trưng của bệnh sởi
Những hạt này xuất hiện khoảng 2 ngày trước khi phát ban, tồn tại 1 – 4 ngày, có hình ảnh như những hạt muối nhỏ trên nền đỏ của niêm mạc má.
![]() |
- Hồng ban xuất hiện 3 – 4 ngày sau khởi bệnh, bắt đầu mọc ở mặt và sau tai, là những nốt sẩn như đầu đinh ghim, sau hợp lại thành những dát sẩn màu đỏ gạch, không đều, thường gây ngứa. Trong những trường hợp nặng, ban hợp lại thành những vùng da đỏ gần như đồng đều ở một số nơi trên cơ thể. Ban mọc tiếp ở thân mình rồi đến chân tay. Lòng bàn tay, lòng bàn chân là vị trí cuối cùng phát ban. Sau 5 – 6 ngày, ban sẽ mất dần theo thứ tự mọc, có thể tăng sắc số da và bong vảy nhẹ.
Bệnh sởi thường không phải là bệnh nặng. Bệnh sởi nặng thường gặp ở những trẻ suy dinh dưỡng, thiếu vitamin A hoặc nhiễm HIV. Tử vong trong bệnh sởi thường là do biến chứng. Các biến chứng nghiêm trọng như mù mắt do viêm loét giác mạc, viêm não, tiêu chảy mất nước nặng, nhiễm trùng tai hoặc nhiễm trùng đường hô hấp nghiêm trọng như viêm phổi.
Biến chứng của bệnh sởi có thể tránh được nhờ sự chăm sóc bệnh tốt, bảo đảm dinh dưỡng và bù dịch đầy đủ trong những trường hợp tiêu chảy. Kháng sinh được dùng trong các trường hợp có nhiễm trùng thứ phát như viêm tai, viêm phổi.. Trẻ em ở các nước đang phát triển được chẩn đoán sởi sẽ được uống 2 liều vitamin A (400.000 đơn vị) tác dụng duy trì niêm mạc đường tiêu hóa, hô hấp và có thể làm tăng cường miễn dịch, giúp ngăn ngừa tổn thương loét giác mạc mắt, làm giảm tỷ lệ biến chứng và tỷ lệ tử vong ở trẻ em.
![]() |
Nhờ kháng thể của mẹ truyền cho, trẻ em được bảo vệ khỏi bệnh sởi đến tháng thứ 6 sau sinh. Từ tháng thứ 9, trẻ được chích ngừa sởi trong chương trình tiêm chủng quốc gia. Khi đến 15 tháng tuổi, hoặc khi trẻ đi học cần được tiêm nhắc lại 1 mũi tiêm ngừa cùng lúc 3 bệnh sởi, quai bị và rubella.
Thuốc tiêm ngừa sởi có thể phòng bệnh nếu được dùng trong vòng 3 ngày sau khi tiếp xúc (phơi nhiễm) với người bệnh sởi
Không tiêm ngừa sởi cho phụ nữ có thai và những người bị suy giảm miễn dịch như: đang bị bệnh lao, bệnh bạch cầu hoặc ung thư khác.. Không tiêm ngừa cho những người có tiền sử dị ứng trầm trọng với chất gelatin hoặc kháng sinh neomycin vì có khả năng dị ứng với vắc xin.
Thuốc chủng ngừa sởi đôi khi gây ra tác dụng phụ như: sốt sau khi tiêm 1 – 2 tuần (5 – 15%) và một bệnh sởi không lây tự hết (5%).
Bệnh nhân mắc bệnh sởi cần phải được cách ly 1 tuần sau khi phát ban và nghỉ ngơi tại giường cho đến khi hết sốt. Hạ sốt bằng thuốc paracetamol. Hầu hết bệnh nhân bị sởi không có biến chứng và sẽ lành bệnh.










