Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 27/11/2007 00:10 (GMT+7)

Nhà rông, hồn của làng Thượng

Nói đến Tây Nguyên, hầu như bao giờ người ta cũng nghĩ ngay đến nhà rông. Quả thật đây là đặc sản của vùng đất này, thậm chí còn đặc sản hơn cả cồng chiêng, cồng chiêng nhiều nơi khác cũng có, còn nhà rông thì ngoài Tây Nguyên chỉ còn tìm thấy rải rác ở đôi vùng Đông Nam Á và lạ thay, lại ở... đôi hòn đảo tít tắp trên Thái Bình Dương mênh mông. Vì sao vậy? Nguyên câu hỏi đó thôi cũng đã lạ lùng và hấp dẫn biết bao rồi!... Hùng vĩ mà duyên dáng, uyển chuyển và thâm trầm, nhẹ nhàng mà uyên bác, vững chắc như lưỡi rìu dựng ngược sắc lịm và vạm vỡ, bay bổng tựa cánh buồm lớn lướt đi trên nền xanh thẳm rập rờn của rừng… có thể không bao giờ hết được ngạc nhiên trước kiến trúc tuyệt diệu này của những tộc người ta vẫn thường ngỡ rất mộc mạc, giản đơn. Cho nên hẳn còn cần rất nhiều công tình giới thiệu và nghiên cứu về thành tạo văn hoá kỳ thú này của một vùng văn hoá cũng vào loại kỳ thú nhất trên đất nước ta…

Để hiểu nhà rông, có lẽ trước hết cần hiểu, dầu chỉ là trên những nét khái quát nhất, về một thiết chế xã hội cơ bản của Tây Nguyên, vốn chính là cái nền móng từ đó mới sinh ra và tồn tại nhà rông: Làng.

Như chúng ta thường nghe nói, người Tây Nguyên có tính cộng đồng rất cao. Cần nói rõ hơn chút nữa: tính cộng đồng ấy trước hết và chủ yếu là cộng đồng làng. Chỉ cần chú ý đôi chút đã nhận ra ngay điều này: trong nhiều ngôn ngữ của các dân tộc Tây Nguyên, không tìm thấy từ chỉ một đơn vị xã hội cao hơn làng: Buôntrong tiếng Ê - đê, Boomtrong tiếng Mnông, Plâytrong tiếng Ba - na hay Gia - rai, Veiltrong tiếng Cơ - tu… đều có nghĩa là làng. Trước đây cũng có thể gặp từ T’ringchỉ một kiểu liên minh của vài hay nhiều làng, nhưng đấy là những liên minh trong thời gian thường không dài để cùng nhau đối phó với nững trở lực nhất thời nào đó, khi trở lực đó được giải quyết xong thì liên minh này cũng không còn, và không thấy có tổ chức hành chánh, xã hội tương đương. Cao nhất ở đây là làng, cổ truyền là vậy, và vẫn còn rất đậm cho đến tận hôm nay. Đối với người Tây Nguyên, quê hương, và từ đó, dân tộc, đất nước. Tổ quốc nữa, trước hết là làng. Đương nhiên trong thời hiện đại, nhất là trong cuộc đấu tranh chung cùng các dân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam chống ngoại xâm suốt gần thế kỷ qua và trong xây dựng ngày nay, người Tây Nguyên có ý thức hơn về một Tổ quốc Việt Nam thống nhất, song điều ấy không hề mâu thuẫn, trái lại về mặt nào đó còn làm đậm hơn ý thức về làng của họ […].

Nhà rông trong cảnh quan làng Thượng

Nhà rông trong cảnh quan làng Thượng

Mặt khác, trong xã hội này ý thức cá nhân cũng chưa đủ phát triển, hoặc ít ra chưa định hình rõ rệt. Gặp tình cờ một người Tây Nguyên và bất chợt hỏi: Anh hay chị tên gì? ta thường nhận đượccâu trả lời bật ra tức thời: Tôi là người làng A hay B nào đó. Trước hết là làng. Gạn hỏi kỹ hơn nữa, người ta mới nói: Tôi tên là X hay Y ở làng A hay B. Vẫn không quên được làng. Vậy đó, đối vớingười Tây Nguyên, làng là đơn vị cao nhất và cũng thấp nhất; con người là một tế bào nhỏ gắn bó máu thịt của một cơ thể hoàn chỉnh, thống nhất và bền chặt là làng. Không có con người tách ra khỏilàng. Chỉ có con người bị hoà tan và sự hoà tan trong làng, bị nhấn chìm và tự nhấn chìm mình trong làng. Làng là lẽ sống, là hạnh phúc, là tất cả đối với con người. Còn hơn thế nữa, không có làngthì hầu như con người không còn là người. Ở Tây Nguyên hình phạt nặng nề nhất, nổi đau khổ và nhục nhã lớn nhất đối với một người là bị đuổi ra khỏi làng, bị cộng đồng làng từ bỏ, bị loại khỏi cộngđồng làng. Trong trường hợp cùng cực đó sinh linh ấy sẽ bị mất luôn cả tính người. Làng đuổi một con người ra khỏi cộng đồng của mình cũng đồng nghĩa là đuổi nó ra khỏi loài người. Con người đó sẽ bịrơi trở lại vào tình trạng hoang dã, như con thú lang thang trong rừng, trở nên điên dại rồi chết vùi trong đó. Chính làng làm cho con người thành người thành văn hoá… Cũng có thể chú ý chẳng hạnđiều này: ở Tây Nguyên một người chết ở ngoài làng của mình tì bị coi là chết xấu, chết dữ, linh hồn sẽ không được đi theo những chặng đường chuyển hoá bình thường mà tốt đẹp của những hồn người đượcchết một cách tự nhiên. Cho đến thi hài cũng không được chôn trong khu nhà mồ chung của làng. Tức làng không chỉ là đơn vị cơ bản của cuộc sống ở thế giới này, nó còn kéo dài sang cả thế giới bênkia; không chỉ là đơn vị xã hội hiện thực mà còn là đơn vị tâm linh, hoặc cũng có thể nói cách khác, không chỉ là không gian, mà còn là thời gian, là không - thời - gian vĩnh hằng, tồn tại vô cùngsinh động trong vòng tuần hoàn bất tận của sự tử sinh…

Nhà rông Ba - na làng Kon Rbàng (Kon Tum) dựng lần đầu vào khoảng năm 1930

Nhà rông Ba - na làng Kon Rbàng (Kon Tum) dựng lần đầu vào khoảng năm 1930

Vậy đó, làng không chỉ là nơi cư trú, cũng không chỉ là nơi đảm bảo những điều kiện sống nào đó của con người. Còn sâu hơn rất nhiều, làng làm cho con người thành người, là người, thành vănhoá, là sinh linh có bản chất văn hoá. Và bây giờ thì ta có thể nói thế này: cái bản chất văn hoá hết sức đặc trưng đó của Tây Nguyên có một biểu hiện vật chất tập trung nhất, tiêu biểu nhất: đấychính là nhà rông. Nhà rông sinh ra từ trong bản chất văn hoá đó của xã hội Tây Nguyên, để “thực hiện” cái bản chất văn hoá đó (2). Nó là “Nhà văn hoá” của các cộng đồng làng Tây Nguyên, theo nghĩatoàn diện, sâu sắc, uyên thâm nhất và có lẽ cũng cổ xưa và cơ bản nhất của khái niệm văn hoá và nhà văn hoá.

Nhà rông làng Kon Bràng dựng tại bảo tàng Dân tộc học Việt Nam năm 2003

Nhà rông làng Kon Bràng dựng tại bảo tàng Dân tộc học Việt Nam năm 2003

Nhà rông là linh hồn của làng. Ở Tây Nguyên, người ta gọi một ngôi làng không có nhà rông là "làng đàn bà", tức cũng gần như nói một cái làng chưa ra làng, chưa xứng đáng là làng. Đấymới chỉ là một tập hợp rời rạc những cái nhà chưa có hồn, trong đó chứa những sinh linh cũng chưa có hồn, chưa thật sự là con người, bởi người ta chỉ thành người khi được thổi vào đấy hồn người, mànhư đã nói ở trên, hồn người đối với người Tây Nguyên thì phải là hồn làng. Khi lập một làng mới, tức là sự kiện trọng đại nhất trong đời sống cộng đồng, những người già nhất trong làng, từng trải vàhiền minh nhất, gắn bó và nhiều kinh nghiệm nhất về núi rừng, là pho sử sống của cộng đồng, thay mặt làng đi tìm đất, chọn vị trí đẹp nhất cho làng. Và trong cái "quy hoạch" của làng mới đó, thì quantrọng nhất là chọn vị trí đặt nhà rông. Có nhà rông thì mới thật sự là làng. Làng bắt đầu bằng nhà rông, sinh ra cùng nhà rông, nói theo một cách nào đó thì nó đồng nhất với nhà rông. Đặt nhà rôngcũng tức là đặt trái tim cho cơ thể làng, trái tim ấy bắt đầu đập, truyền máu đi khắp cơ thể làng, kết nối tất cả lại và thổi sự sống vào cho nó trở thành một cộng đồng không gì phá vỡ được.

Nhà gươi của người Cơ - tu ( Quảng Nam)

Nhà gươi của người Cơ - tu ( Quảng Nam)

Nhà rông là nơi diễn ra toàn bộ đời sống cộng đồng làng. Nơi đêm đêm, ngay từ tấm bé, đứa trẻ đã được theo cha hay mẹ đến dự những buổi tụ hội cả làng quanh bếp lửa, ở đó những thế hệ conngười Tây Nguyên, bằng các cuộc trò chuyện, các cuộc ca hát, chơi đùa, thậm chí cả la đà bên ché rượu cần..., truyền cho nhau, từ đời này sang đời khác, tiếp nối không ngừng, kinh nghiệm sống và làmngười giữa chốn rừng núi vừa bao dung vừa dữ dội và khắc nghiệt này: Cách đi săn con thú trong rừng, cách tỉa lúa trên rẫy, cách xem trời nắng mưa, cách sống với rừng và với người, cách ứng xử vớingười già, người trẻ, người quen, người lạ, với bạn với thù, với người còn sống và người đã chết, với con người và với thần linh...Và tất nhiên, cả cách yêu đương, nên vợ nên chồng... Nơi dân lànghội họp để bàn bạc dân chủ và Hội đồng Già làng quyết định mọi việc lớn nhỏ liên quan đến đời sống của làng. Nơi diễn ra các lễ hội tưng bừng và tiến hành các nghi lễ tín ngưỡng thâm trầm. Nơi đêmnày qua đêm khác, có khi kéo dài đến hàng chục đêm, những người già hát kể cho con cháu nghe những bản trường ca về những người anh hùng huyền thoại và về sự hình thành vũ trụ cùng sự sống trên tráiđất này... Đây cũng là nơi làng tiếp đãi khách, tức là ngôi nhà đại diện của làng giao tiếp với thế giới bên ngoài. Nhà rông còn đặc biệt là nơi ngủ bắt buộc của tất cả thanh niên chưa có vợ tronglàng: bởi họ là lực lượng trực chiến của làng, sẵn sàng bảo vệ làng chống lại mọi cuộc tiến công đến từ mọi phía. Chính vì vậy, trong làng nhà rông thường đứng ở vị trí cao nhất, có thể phát hiện kẻthù đến từ xa, là chỉ huy sở của các cuộc chiến đấu bảo vệ làng...

Một cộng đồng người cần có bao nhiêu điều kiện để tồn tại như một cộng đồng thuần nhất, thì nhà rông đảm nhiệm bấy nhiêu chức năng, đầy đủ, sâu sắc, toàn vẹn.

Nhà rông có tự bao giờ và vì sao? Cho đến nay hình như chưa có ai trả lời cụ thể được câu hỏi đó. Còn đối với các cụ già Ba - na thì trong những đêm kể trường ca hầu như bất tận ở nhà rông, các cụ có câu trả lời đầy tin tưởng của họ, và quả thật rất lạ: hoá ra lịch sử nhà rông Tây Nguyên, theo niềm tin của các cụ, lại trùng khớp một cách tuyệt vời với… Tháp Babel và cả trận Đại hồng thuỷ của Kinh Thánh!.

Các cụ kể rằng thưở ban đầu tất cả mọi người đều là con cháu của Bok Xơ - gor. Một hôm những người con của Bok Xơ - gơr, chắc là trong một lúc cao hứng, quyết định dựng một căn nhà thật lớn, thật cao, cao nhất thế gian này, mái lẫn vào tận trong những “đám mây đen gây mưa”, cũng tức là theo cách hiểu của họ, cao đến tận trời, đứng trên nóc nhà ấy thì với tay là có thể chạm được tới trời. Người con trai trưởng chỉ huy công trình và mọi người đều tham gia; công việc tiến triển nhanh. Sườn nhà được dựng lên, và người con trưởng leo lên nóc, ra lệnh vang vang; giọng anh giống như tiếng gió bão. Nhưng khi anh cần và yêu cầu dây mây thì đám em út và con cháu ở bên dưới lại đưa lên cho anh một cây kèo nhỏ. Anh bực mình, ném cây kèo xuống và lại đòi dây mây; nhưng mọi người lại đưa cho anh một sợi thừng. Cứ thế, chẳng còn hiểu ra sao cả… Giận quá chừng, anh chửi mắng đám con cháu, nhưng ai cũng phá lên cười, vì chẳng ai còn hiểu anh nói gì nữa, ngôn ngữ bỗng lẫn lộn lung tung hết cả. Tức điên người lên, người con trưởng của Bok Xơ - gơr nhảy từ trên mái xuống, vớ lấy một cây gậy nện cho các em trai, em gái và các cháu một trận nên thân. Tránh đòn, mọi người chạy tứ tán ra khắp nơi. Một số nói tiếng Ba - na chạy tới xứ Ba - na, những người khác thì sinh ra người Xơ - đăng, người Rơ - ngao, người Gia - rai, người Ê - đê, người Ca - dong, người Mạ… Người con trưởng ở lại với bố mẹ, trở thành gốc của dân Việt. Chính họ là hậu duệ của người con trưởng….

Cây nêu thường cao khoảng 10 m trở lên, trang trí đẹp theo tập tục được dựng phía trước nhà rông để buộc con trâu tế và làm nơi hành tế của làng

Cây nêu thường cao khoảng 10 m trở lên, trang trí đẹp theo tập tục được dựng phía trước nhà rông để buộc con trâu tế và làm nơi hành tế của làng

Ở vùng Gia - rai, câu chuyện này có khác đôi chút. Thời bấy giờ, tức là thưở khai thiên lập địa, Plây Kơteng, gần Plây Khuen (hình như ở vùng Ayun Pa thuộc tỉnh Gia Lai ngày nay), là trungtâm của thế giới. Chính tại đây, sau trận Đại hồng thuỷ, Bok Xơ - gơr còn sống và sinh con đẻ cháu, loài người ngày càng đông lên, vả lại đã có kinh nghiệm của trận lụt lớn tai hại, họ bèn quyết địnhxây một chiếc tháp cao đến mức người ta phải giữ nóc bằng những sợi dây mây rất dài. Một vị thủ lĩnh trèo lên đấy để quan sát khắp vũ trụ.

- Phía mặt trời mọc, ông ta kêu to, ta nhìn thấy một đồng bằng đẹp đẽ, ở gần biển: ta lại thấy một đồng bằng khác ở hướng mặt trời lặn, cạnh một con sông lớn…

Ông ta không nói thêm được gì nữa, vì đúng lúc đó, chiếc tháp đổ sụp và nhân vật xấu số rơi xuống chết. Vội nhanh chân lao đến những vùng đất tốt lành nọ trước tiên, người Việt và người Lào đã buông tất cả những sợi dây mây. Người Ba - na và người Gia - rai, vốn lờ vờ và thích thú vui chơi, còn mãi nhởn nhơ nhai mía và chẳng nghe thấy gì cả. Đến khi họ muốn lắng nghe thì đã quá muộn: các ngôn ngữ bỗng nhiên lẫn lộn lung tung. Không biết đi về đâu nữa, họ đành phải ở lại tại chỗ… Những người ở lại tại chỗ chính là người Tây Nguyên bây giờ. Và nhà rông Tây Nguyên ngày nay là dấu vết của cây tháp nguyên thuỷ nọ…

Tất nhiên đấy là những truyền thuyết đẹp đẽ và thơ mộng. Nhưng, như chúng ta biết, những truyền thuyết cũng có thể là một kiểu “ký ức” mơ hồ và huyền ảo nào đó của con người về những thưở xa xăm mịt mù. Riêng với chúng ta, hẳn khó lòng mà không thể không đặt ra câu hỏi: tại sao lại có sự gặp gỡ lạ lùng đến giữa “lịch sử” nhà rông trong tâm trí những con người trong rừng sâu hẻo lánh Tây Nguyên hôm nay với truyền thuyết Babel tận bên trời Tây xa xôi? Có mối liên hệ nào đây của những bộ phận cách xa nhau đến thế của loài người, có những dòng chảy nào đây của con người và của văn hoá từ những thưở cực kỳ xa xăm?...

Vậy đó, nhà rông Tây Nguyên, cũng như chính Tây Nguyên, rất hiện thực, mà cũng rất huyền ảo. Đã có thể hiểu được nhiều điều về vật thể văn hoá kỳ thú này của Tây Nguyên, mà cũng còn bao nhiêu điều chưa thể hiểu, cần hiểu thấu thêm nữa, thậm chí có thể bất tận về nó.

Chú thích:

(1)   Nguyễn Văn Kự, Lưu Hùng,Nhà rông Tây Nguyên, Nxb Thế giới, 2007.

(2)   Ở một số tộc người phía Nam Tây Nguyên, như ở vùng Ê - đê, Mnông, Kơ - ho, Mạ… ta không thấy có nhà rông, nhưng ở đây lại có nhà dài. Và những nhà dài bao giờ cũng có một gian nhà chính, thường nằm giữa nhà, rộng, đẹp, trang trọng nhất. Gian chính ấy trong nhà dài đảm nhận đầy đủ các chức năng đúng như các chức năng của nhà rông trong các làng của các dân tộc có nhà rông.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.