Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 07/10/2010 19:31 (GMT+7)

Nguy cơ thiếu nước ở Việt Nam

Tài nguyên nước mưa

Nước mưa trung bình hàng năm trên toàn lãnh thổ nước ta có khoảng 650km 3, khối lượng nước này trải đều trên bề mặt đất liền có lớp nước mưa dày 1960mm. So với nhiều nước trên thế giới, tài nguyên nước mưa nước ta khá phong phú, nhiều hơn khoảng 2,5 lần so với lượng mưa trung bình Trái đất (800mm) và Châu Âu (790mm). Trung bình hàng năm,mỗi người dân nhận được khoảng 8125m 3nước mưa.

Do ảnh hưởng của địa hình, lượng mưa phân bổ rất không đều trong lãnh thổ. Ở những miền núi cao, lượng mưa hàng năm lên tới 4000 - 5000mm, như ở vùng núi phía đông bắc tỉnh Quảng Ninh, khu vực Bắc Quang của Hà Giang, vùng núi Trà My, Ba Tơ ở Quảng Nam, Quảng Ngãi. Trái lại, ở những sườn núi, thung lũng khuất gió là nơi mưa ít, lượng mưa nằm dưới 1200mm. Khu vực ven biển ở vùng Ninh Thuận - Bình Thuận là nơi mưa ít nhất ở nước ta, lượng mưa hàng năm chỉ khoảng 500-600mm. Như vậy, lượng mưa năm ở nơi nhiều nhất gấp đến 10 lần lượng mưa năm ở nơi ít nhất. Hàng năm, lượng mưa lại phân phối không đều trong năm. Có khoảng 65-90% lượng mưa tập trung trong 3-6 tháng mùa mưa, chỉ có 10-35% lượng mưa năm rơi trong 6-9 tháng mùa khô. Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 4,5 ở Bắc Bộ, phần phía Bắc của Bắc Trung Bộ (Thanh Hoá, Bắc Nghệ An), Tây Nguyên và Nam Bộ cho đến tháng 9, 10 ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, tháng 10, 11 ở Tây Nguyên và Nam Bộ. Riêng ở ven biển Trung Bộ, mùa mưa xuất hiện ngắn, thường là tháng 8, 9, 11, 12.

Tài nguyên nước sông

Phần lớn tài nguyên nước sông của Việt Nam (khoảng 60%) được hình thành trên phần lưu vực nằm ở nước ngoài, trong đó hệ thống sông Mê Kông chiếm nhiều nhất (447 km 3). Nếu chỉ xét thành phần lượng nước sông được hình thành trong lãnh thổ nước ta, thì hệ thống sông Hồng có tổng lượng dòng chảy lớn nhất, sau đó đến hệ thống sông Mê Kông và hệ thống sông Đồng Nai. Tổng lượng dòng chảy năm của hệ thống sông Hồng 81,3 km 3, hệ thống sông Mê Kông 53 km 3, hệ thống sông Đồng Nai 32,8 km 3.

Lượng nước sinh ra trên 1 km 2diện tích trên toàn lãnh thổ trung bình một năm khoảng 2.520 triệu m 3, lượng nước này đủ cấp cho dân số hiện nay khoảng 10.440 m 3/người/ năm. So với thế giới, tổng lượng nước sông của nước ta chỉ chiếm khoảng 1,95% và khoảng 6% của Châu Á. Nếu xét về mức bảo đảm nước trên 1km 2diện tích thì mức bảo đảm nước của nước ta gấp 8 lần so với mức bảo đảm nước trung bình toàn thế giới, còn mức bảo đảm nước cho một người chỉ lớn hơn có 1,36 lần.

Hiện nay, tổng lượng nước cần dùng chỉ chiếm khoảng 11% tổng lượng dòng chảy sông suối nước ta và tăng lên khoảng 14,6% vào năm 2010. Tuy nhiên, do lượng dòng chảy sông ngòi phân bổ rất không đều trong lãnh thổ và biến đổi mạnh theo thời gian, nên tình trạng khan hiếm nguồn nước đã và đang xảy ra ở nhiều nơi nhất là trong mùa khô cạn. Sự thiếu hụt nguồn nước sẽ trầm trọng vào năm 2010, nhiều tỉnh ở ven biển Trung Bộ và Tây Nguyên, tổng lượng nước cần dùng sẽ vượt tổng nguồn nước tới 1,3-3,6 lần.

Nguy cơ thiếu tài nguyên nước mặt

Cùng với sự gia tăng dân số và phát triển kinh tế xã hội, lượng nước cần dùng cho các nhu cầu tăng mạnh trong tất cả các vùng. Trên phạm vi cả nước, lượng nước cần dùng năm 2000 khoảng 92,116 tỉ m 3, đến năm 2010 sẽ tăng lên khoảng 121,521 tỉ m 3. Lượng nước cần dùng cho tưới, chăn nuôi, thuỷ sản tăng nhanh. Năm 2000, tổng lượng nước dùng cho tưới là 76,6x10 9m 3, chiếm 84% tổng nhu cầu dùng nước, dự báo đến năm 2010 sẽ tăng lên khoảng 88,8x10 9m 3. Nước sử dụng trong sinh hoạt chiếm tỷ lệ rất nhỏ, khoảng 2% so với tổng nhu cầu, đến năm 2010 có thể tăng lên 3,088 tỷ m 3.

Nếu xét chung cho cả nước thì nước ta không thuộc diện tích thiếu nước, nhưng không ít vùng và lưu vực sông đang thiếu nước và hiếm nước, như vùng ven biển Ninh Thuận - Bình Thuận, Duyên hải cực Nam Trung Bộ, hạ lưu sông Đồng Nai… Sự gia tăng dân số và các hoạt động của con người sẽ ngày càng tác động mạnh đến môi trường tự nhiên nói chung và môi trường nước nói riêng (dân số tăng lên 1 lần, nhu cầu nước tăng lên 3 lần). Những hoạt động của con người như chặt phá rừng, canh tác nông lâm nghiệp không hợp lý và xả chất thải bừa bãi vào các thủy vực… gây nên những hậu quả rất nghiêm trọng, làm cho nguồn nước bị cạn kiệt, ô nhiễm. Nguy cơ thiếu nước sạch sẽ ngày càng trầm trọng, nhất là vào mùa cạn ở các vùng mưa ít gây hạn hán khốc liệt. Theo nghiên cứu của Viện Khoa học - KTTV và Môi trường, nếu chặt phá 30% rừng trên lưu vực, nguồn nước mùa cạn giảm đi khoảng 2-3%, dòng chảy tháng lớn nhất tăng lên khoảng 1,5%.

Lượng nước mặt từ ngoài lãnh thổ chảy vào nước ta chiếm khoảng 60% tổng lượng nước của các hệ thống sông ngòi. Do vậy, chúng ta sẽ chịu tác động mạnh mẽ và sẽ gặp khó khăn khi các nước có chung dòng sông sử dụng nước nhiều hoặc gây ô nhiễm nước đầu nguồn hay khi điều tiết dòng chảy. Tài nguyên nước lại phân bố rất không đều giữa các vùng. Trên 60% nguồn nước sông tập trung ở khu vực đồng bằng Sông Cửu Long, trong khi toàn phần lãnh thổ còn lại chỉ có gần 40% lượng nước nhưng lại chiếm tới gần 80% dân số cả nước và trên 90% khối lượng hoạt dộng sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Đặc biệt ở Đông Nam Bộ và lưu vực Đồng Nai - Sài Gòn, lượng nước bình quân đầu người chỉ đạt khoảng 2.900 m 3/người/năm, bằng 28% so với mức trung bình của cả nước. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao không đi đôi với làm tốt công tác bảo vệ môi trường đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực tới tài nguyên nước. Hiện tại, nguồn nước sông đang bị ô nhiễm, nhất là đoạn chảy qua các đô thị khu công nghiệp tập trung, như sông Cửu Long, sông Hồng, Thị Vải, sông Sài Gòn, sông Cấm…

Bên cạnh đó, khí hâu toàn cầu nóng lên đang tác động mạnh mẽ đến tài nguyên nước. Mức độ biến đổi mạnh nhất xảy ra ở Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ. Nước biển có thể dâng cao thêm 0,3 - 1,0 m và do đó nhiều vùng thấp ở đồng bằng sông Cửu Long, vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ và ven biển Trung Bộ sẽ bị ngập trong nước biển. Hiện tượng xâm nhập mặn từ biển vào đất liền theo các dòng sông cũng ngày càng sâu, có nơi tới 10 đến 20km. Những khúc sông nối liền với biển đã không còn nước ngọt, mặn hóa ngày một tăng làm ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của cư dân quanh vùng.

Quản lý hiệu quả tài nguyên nước

Để tránh nguy cơ thiếu nước, phải xét đến những lợi ích toàn cục, quản lý tổng hợp tài nguyên nước. Các cấp ngành phối hợp đồng bộ trong điều tiết nguồn nước, không nên vì các lợi ích cục bộ trước mắt. Bên cạnh đó, cần nhanh chóng đầu tư xây dựng và nâng cấp các công trình thủy lợi. Hiện nay, các công trình thủy lợi được xây dựng từ những năm 60-70 của thế kỷ trước đã lạc hậu và xuống cấp, chỉ điều tiết được 8% (khoảng 25.000 tỷ m 3 nước) trong tổng lượng nước phát sinh trên lãnh thổ (ở Mỹ 30%). TS. Lã Văn Chú, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Thủy văn và Tài nguyên nước cho rằng: Cần có các hồ chứa nước để điều hoà dòng chảy và tích lũy nước hiệu quả. Chú trọng việc trồng rừng nhằm lưu giữ nguồn nước trên thượng lưu. Bên cạnh đó, tăng cường công tác tuyên truyền cho người dân sử dụng tiết kiệm nước; bố trí thời vụ gieo trồng hợp lý, đồng thời có các giải pháp nâng cao chất lượng bảo vệ nguồn nước sạch không bị ô nhiễm, cạn kiệt.

Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi một nguồn nước mặt khá phong phú, nhưng đã và đang đối mặt với những thách thức to lớn đó là nguy cơ cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước dẫn đến khan hiếm nước. Nguy cơ đó sẽ càng trầm trọng nếu không có các biện pháp quản lý tốt.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

5 nhà khoa học của Liên hiệp Hội Việt Nam được tôn vinh “Nhà khoa học của Nhà nông” năm 2026
Sáng 2/10/2026, tại Hà Nội, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tổ chức Chương trình tôn vinh “Nhà khoa học của Nhà nông” lần thứ VII và trao giải Cuộc thi “Sáng tạo kỹ thuật Nhà nông” toàn quốc lần thứ XI năm 2026. Trong số 42 cá nhân được tôn vinh năm nay có 5 nhà khoa học do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam giới thiệu.
Thanh Hoá: Kinh tế tuần hoàn, tín chỉ Carbon và mô hình sản xuất không phát thải
Ngày 30/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội) phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Hồng Đức và Viện Nông nghiệp Thanh Hóa tổ chức Diễn đàn khoa học với chủ đề “Kinh tế tuần hoàn và tín chỉ Carbon - Phương pháp xây dựng mô hình sản xuất không phát thải tại Thanh Hóa”.
Đắk Lắk: Phát huy nguồn lực trí thức, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tỉnh
Trong giai đoạn 2026-2030, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) là yêu cầu quan trọng để Đắk Lắk khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế và các nguồn lực cho phát triển. Cùng với KHCN và CĐS, ĐMST cần được nhìn nhận không chỉ là hoạt động của các viện, trường hay doanh nghiệp công nghệ, mà là một phương thức tổ chức nguồn lực để giải quyết những bài toán phát triển cụ thể của địa phương.
Phú Thọ: Tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại xã Lạc Sơn
Ngày 25/9/2026, tại xã Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng (MACDI) cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức chương trình tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
Đại hội Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lần thứ VIII: GS.TS Nguyễn Văn Kim được bầu làm Chủ tịch
Ngày 30/9/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Hội; GS.TS Nguyễn Văn Kim được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.
Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.