Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ bảy, 15/09/2007 00:06 (GMT+7)

Nguồn lợi loài nghêu ở Ðồng Bằng sông Cửu Long

I. Kết quả nghiên cứu

1. Một số chỉ tiêu môi trường

1.1 Khí tượng thủy văn

Các yếu tố khí tượng thủy văn có ảnh hưởng đến mùa vụ sinh sản của nghêu, như tháng 6 có nhiệt độ không khí, nước, tốc độ gió, số ngày mưa ... là yếu tố kích thích tác động thuận lợi cho quá trình thành thục và sinh sản của nghêu.

1.2 . Các chỉ tiêu môi trường nước chính

Nhiệt độ nước, độ trong, độ mặn, tổng số chất rắn lơ lửng trong nước, pH, ôxy hòa tan, CO2, COD và BOD, năng suất sinh học, thực vật nổi.

1.3. Các chỉ tiêu trên đất và phù sa trên các bãi nghêu

Cơ cấu nền bãi nghêu giống và nghêu thương phẩm chủ yếu được cấu tạo do bồi lắng phù sa. Các kim loại như Fe3+ ,Al3+ tuy có biến động theo thời gian thu mẫu nhưng mức thấp và không nguy hại đối với sự sinh trưởng của nghêu.

1.4. Các chỉ tiêu vi khuẩn

Tổng số vi khuẩn hiếu khí sinh H2S và nhóm Vibrio ở mức thấp, không thấy các vi khuẩn thuộc nhóm Vibrio có khả năng gây bệnh cho động vật thủy sinh. Ðiều đó chứng tỏ nước và nền bãi vùng nuôi nghêu khá sạch và ổn định.

2. Một số chỉ tiêu sinh học chính của nghêu giống và nghêu thương phẩm ở ÐBSCL

2.1. Sinh trưởng

* Nghêu giống :

ở giai đoạn giống nhỏ, nghêu giống tăng trưởng mạnh từ tháng 8 đến tháng 10 (420% - 600%), chậm lại từ tháng 10 đến tháng 3 (1,52- 150%) và tăng cao từ tháng 3 đến tháng 5 (195,67- 758,5).

* Nghêu thương phẩm :

Tốc độ tăng trưởng của nghêu giống và nghêu thương phẩm vào mùa mưa chậm hơn nhiều so với mùa khô, do có sự biến đổi lớn theo mùa của các yếu tố môi trường như nhiệt độ nước, độ trong, độ mặn, nguồn thức ăn thực vật nổi.

2.2. Ðộ no của nghêu thương phẩm

Khả năng bắt mồi của nghêu vào mùa mưa tốt hơn, nên nghêu no chiếm tỉ lệ thấp hơn nhiều (35%-55%) so với mùa khô (80%-100%).

2.3 Sự phát triển tuyến sinh dục

Sự biến động chỉ số thành thục của nghêu theo quy luật khá rõ nét. Khi nghêu có sự biến đổi chỉ số thành thục từ cao xuống thấp, đồng thời sau đó là mùa sinh sản. Trong năm, nghêu có chỉ số thành thục cao vào 2 thời kỳ. Nghêu sinh sản hằng năm vào 2 mùa sinh sản chính và phụ.

Chukỳ thành thục tuyến sinh dục và sinh sản của nghêu :

Tháng 1 : Hầu hết nghêu đã qua thời kỳ sinh sản và đang hình thành những tế bào nguyên sinh.

Tháng 2 - 3 : Bắt đầu chuẩn bị chất dinh dưỡng cho mùa sinh sản mới vào tháng 3, hầu hết nghêu ở giai đoạn III và IV.

Tháng 4 : Tuyến sinh dục phát triển vào đầu giai đoạn III và cuối giai đoạn IV.

Tháng 5 : Chuẩn bị sinh sản, khoảng 11,11% đang trong quá trình sinh sản.

Tháng 6 : Tỷ lệ nghêu thành thục cao sẵn sàng tham gia sinh sản. Một số đã sinh sản, tế bào sinh dục con non chưa đi vào giai đoạn biệt hóa giới tính.

Tháng 7 : Kết thúc sinh sản, một số đang sinh sản. Các cá thể chuẩn bị sinh sản vào tháng 7 hoàn toàn là con đực.

Tháng 8 - 9 : Nghêu đã đẻ xong, con đực tái phát dục nhiều hơn con cái.

Tháng 10 - 11 : Hầu hết nghêu đã kết thúc sinh sản và đang thành thục trở lại.

2.4 Một số chỉ tiêu sản lượng chính của nghêu ở ÐBSCL :

* Nghêu giống :

ở Tân Thành, diện tích nghêu giống khoảng 150 -200 ha, ước tính sản lượng giống từ 14.250 19.000 tấn. Tương ứng, ở Thạch Phú là 101,5 -122 ha và 5.367 6.452 tấn, ở Bình Ðại 358 -460 ha và 27.785 35.321 tấn.

* Nghêu thương phẩm :

Trong 3 vùng nuôi và khai thác, huyện Gò Công có sản lượng cao nhất (36.415 tấn), Ba Tri (16.607 tấn), thấp nhất là Bình Ðại chỉ khai thác tự nhiên khoảng 1.052 tấn.

* Mùa vụ nghêu giống ở ÐBSCL

Nghêu đẻ 2 vụ/năm, mùa sinh sản chính từ tháng 6 9, mùa vụ sinh sản phụ từ tháng 12 2 năm sau.

3 .Thăm dò sinh sản nhân tạo :

3.1 Kích thích sinh sản :

- Ðợt 1 (ngày 17/5) : Chỉ có 2 con đực tham gia sinh sản trong số 30 cá thể thí nghiệm, nhưng tế bào sinh dục chưa chín muồi, do quá trình vận chuyển nghêu bố mẹ lâu làm ảnh hưởng đến sức khỏe nghêu nên mặc dù nghêu thành thục sinh dục ở giai đoạn IV không thể tham gia sinh sản.

- Ðợt 2 (ngày 13/7) : Thí nghiệm trên 80 cá thể nhưng chỉ có một con đực phóng tính do thời điểm này hầu hết nghêu bố mẹ tự nhiên đã qua thời kỳ sinh sản.

3.2 Nuôi vỗ nghêu bố mẹ :

Kết quả 7 đợt thí nghiệm từ tháng 5- 11/1999 (bảng 1)

Nghêu có thể sống trong thời gian dài (hơn 1 tháng) trong môi trường nuôi thí nghiệm với hệ thống nước tuần hoàn, lượng nước thay đổi mỗi ngày không dưới 10% và độ mặn từ 24-27 0/00, thức ăn chính là tảo và bánh mì.

Bảng 1. Một số yếu tố kỹ thuật và môi trường nuôi vỗ nghêu bố mẹ

Các yếu tố

Ðợt thí nghiệm: ngày/tháng

Các tiêu chuẩn kỹ thuật

Các yếu tố môi trường

Tỷ lệ chết (% số ngày nuôi)

Số cá thể nuôi

Khẩu phần ăn

Chế độ thay nước

t o

( 0C )

pH

Ôxy

(mg/l)

Ðộ mặn

(%o)

Tảo

(tb/l)

Men

(g/kg)

1:17 - 23/5

30

8.10 5

1

5% ngày thứ 3

5% ngày thứ 4

26,5

7,8-8,0

6,4-6,5

30

73% /4 ngày

100%/6 ngày

2:13 - 18/6

30

8.10 5

1

5% ngày thứ 4

26,5

8,0

6,4-6,5

30

60% /2 ngày

100%/ 5 ngày

3:13 - 21/7

49

8.10 5

1

Cách ngày thay 5%

26.5

7,8-8,0

6,4-6,5

27

22,5%/6 ngày

71,4/7ngày

100%/8ngày

4:5 - 8/8

30

8.10 5

1

Cách ngày thay 5%

26,7

8,1

6,5

27

100%/3ngày

5:10 - 15/8

27

8.10 5

1-2

Cách ngày thay 5%

26,7

8,0

6,7

27

14,8%/3ngày

81,5%/4ngày

100%/5ngày

6:28/8 - 8/9

32

8.10 5

1

3 ngày thay nước 2 lần, mỗi lần 5%

26,5

7,7

6,8

27

3%/3ngày

37,5%/4ngày

100%/11ngày

7:9/10 - 11/11

80

8.10 5

0,5-1

- 5%/ngày (10 ngày đầu )

- 10%/ngày(16 ngày kế tiếp)

- 15%/ngày (những ngày còn lại)

26,5 đến 27

7,7-8,0

6,8

24-27

0%/21ngày

1,25%/22 ngày nuôi

2,5%/23ngày

8,75%/32 ngày nuôi

4. Nghề nuôi nghêu ở Tiền Giang và Bến Tre

4.1. Hiện trạng

Diện tích nuôi ở Gò Công Ðông biến động do phụ thuộc vào nguồn giống tự nhiên: tăng từ 224 ha (năm 1990) đến 1.670 ha (năm 1995), năm 1996 giảm còn 500ha, và đến tháng 8/1998 khi nghêu giống tự nhiên xuất hiện, diện tích nuôi tăng lên 1.300ha.

Huyện Ba Tri có diện tích nuôi ổn định. Tại Thạnh Phú, Bình Ðại hình thức nuôi chủ yếu là giữ giống tự nhiên sau đó thu hoạch.

4.2 Kỹ thuật nuôi :

- Chuẩn bị bãi nuôi : Làm vệ sinh bãi và làm hàng rào bảo vệ.

- Thả giống : Gồm 2 loại, giống cỡ nhỏ và giống cỡ lớn.

Giống nhỏ : cỡ trung bình 62.200 con/kg (12.000-100.000 con/kg), thả 5,4 tấn/ha, rải đều trên 55,14% tổng diện tích ương nuôi và ương nuôi 10-12 tháng. Thu hoạch trung bình đạt cỡ 755 con/kg (500 1000 con/kg) tỷ lệ sống 70 - 80%.

Giống lớn : Vùng Tiền Giang thả giống cỡ trung bình 1.749 con/kg (140 - 9.000 con/kg) nhỏ hơn nhiều so với giống ở Bến Tre cỡ trung bình 1.069 con/kg (300 - 2.600 con/kg).

Tiền Giang và Bến Tre thả cỡ giống, khối lượng thả và cỡ nghêu thu hoạch rất khác nhau, nhưng thời gian và năng suất thu hoạch gần như nhau.

4.3 Ðánh giá mô hình nuôi nghêu

Kết quả phân tích kinh tế với mô hình nuôi nghêu ở Tiền Giang và Bến Tre cho thấy việc đầu tư cho nuôi nghêu chủ yếu tập trung vào con giống, tiếp đến là lao động thu hoạch. Tuy nhiên, nuôi nghêu cỡ nhỏ ở Tiền Giang chi phí cho giống ít hơn và hiệu quả kinh tế cao hơn, thể hiện qua mức lãi ròng và tỷ lệ thu nhập trên vốn đầu tư cao hơn so với Bến Tre.

Bảng 2. Diện tích và năng suất nuôi từ năm 1996 1998 của huyện Gò Công Ðông, Ba Tri, Bình Ðại, Thạnh Phú

Gò Công Ðông

Ba Tri

Bình Ðại

Thạnh Phú

1996

1997

1998

1996

1997

1998

1996

1997

1998

1996

1997

1998

Số hộ nuôi

132

1.499

1.054

640

Diện tích có khả năng nuôi (ha)

1.670

1.670

1.670

1.395

1.395

1.395

2.200

2.200

2.200

700

700

700

Diện tích nuôi (ha)

800

1200

1.300

825

825

825

300

900

1600

170

170

170

Năng suất (tấn/ha)

11-20

15-20

15-20

15-20

15-20

15-20

3.941

567

731

Bảng 3. Diện tích sản lượng nuôi nghêu của huyện Gò Công Ðông từ 1990-1998

Năm

1990

1991

1992

1993

1994

1995

1996

1997

1998

DT (ha)

224

300

850

1.350

1.450

1.670

800

1.200

1.300

SL (tấn)

3.380

5.100

16.660

16.200

24.650

30.987

5.780

16.000

II. Kết luận

- Xác định được các yếu tố sinh thái cơ bản vùng bãi nghêu, mùa vụ mà các yếu tố môi trường có chiều hướng thuận lợi cho sự sinh sản, bắt mồi và tăng trưởng của nghêu.

- ở giai đoạn kích thước nhỏ (nghêu cám, từ tháng 8-10/1998) tốc độ tăng trưởng nghêu giống rất nhanh, sau đó giảm dần đến tháng 3/1999, từ tháng 3 - 5 khi môi trường thuận lợi nghêu tăng trọng rất nhanh.

- Từ tháng 8-12 tốc độ tăng trưởng nghêu thương phẩm chậm, tỷ lệ nghêu có độ no cao thấp (15-55%); từ tháng 12-8 năm sau: tăng trưởng nhanh và nghêu có độ no cao chiếm 80-100%. Nghêu có kích thước H<20mm tăng trọng chậm hơn nghêu có H>20 mm. Hệ số tương quan chiều dài khối lượng là R2 = 0,9566.

- Có hiện tượng lưỡng tính ở nghêu Meretrix lyrata ở ÐBSCL, nghêu sinh sản hằng năm : mùa chính (tháng 5 - 7) và mùa phụ (tháng 11 - 1) với tỷ lệ đực/cái tự nhiên là 1/1.

- Nguồn lợi nghêu giống ở vùng cửa sông ven biển Gò Công, Bình Ðại và Thạch Phú liên quan đến nhiều yếu tố trong đó quan trọng nhất là nguồn lợi nghêu bố mẹ và các điều kiện môi trường tự nhiên. Tuy nhiên, yếu tố môi trường (mưa lũ, dòng chảy, sóng gió, độ muối...) ảnh hưởng chính đến nguồn lợi và sản lượng nghêu giống.

- Kết quả nghiên cứu nghêu năm 1999 cho thấy nghêu có tuyến sinh dục phát triển có thể tham gia sinh sản từ tháng 5 - 7. Việc kích thích sinh sản sau thời gian này rất khó khăn.

- Có thể lưu giữ và nuôi vỗ nghêu trong điều kiện phòng thí nghiệm với hệ thống nước tuần hoàn, lượng nước thay đổi mỗi ngày không dưới 10%, duy trì sục khí và độ mặn 24-27%o với nguồn thức ăn là tảo đơn bào và men bánh mì.

- Nghề nuôi nghêu ở Tiền Giang và Bến Tre phụ thuộc vào con giống. Diện tích tiềm năng nuôi nghêu khá lớn, nhưng sử dụng còn nhiều biến động nên sản lượng không ổn định. Kết quả phân tích hàm sản xuất cho thấy việc tăng vốn đầu tư và tăng mật độ nuôi là 2 chỉ tiêu không cần thay đổi nhiều vì độ tin cậy của 2 yếu tố này là >90 %. Việc tăng cường kỹ thuật nuôi mới sẽ có ý nghĩa hơn do độ tin cậy < 80%.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.