Nguồn lợi loài nghêu ở Ðồng Bằng sông Cửu Long
I. Kết quả nghiên cứu
1. Một số chỉ tiêu môi trường
1.1 Khí tượng thủy văn
Các yếu tố khí tượng thủy văn có ảnh hưởng đến mùa vụ sinh sản của nghêu, như tháng 6 có nhiệt độ không khí, nước, tốc độ gió, số ngày mưa ... là yếu tố kích thích tác động thuận lợi cho quá trình thành thục và sinh sản của nghêu.
1.2 . Các chỉ tiêu môi trường nước chính
Nhiệt độ nước, độ trong, độ mặn, tổng số chất rắn lơ lửng trong nước, pH, ôxy hòa tan, CO2, COD và BOD, năng suất sinh học, thực vật nổi.
1.3. Các chỉ tiêu trên đất và phù sa trên các bãi nghêu
Cơ cấu nền bãi nghêu giống và nghêu thương phẩm chủ yếu được cấu tạo do bồi lắng phù sa. Các kim loại như Fe3+ ,Al3+ tuy có biến động theo thời gian thu mẫu nhưng mức thấp và không nguy hại đối với sự sinh trưởng của nghêu.
1.4. Các chỉ tiêu vi khuẩn
Tổng số vi khuẩn hiếu khí sinh H2S và nhóm Vibrio ở mức thấp, không thấy các vi khuẩn thuộc nhóm Vibrio có khả năng gây bệnh cho động vật thủy sinh. Ðiều đó chứng tỏ nước và nền bãi vùng nuôi nghêu khá sạch và ổn định.
2. Một số chỉ tiêu sinh học chính của nghêu giống và nghêu thương phẩm ở ÐBSCL
2.1. Sinh trưởng
* Nghêu giống :
ở giai đoạn giống nhỏ, nghêu giống tăng trưởng mạnh từ tháng 8 đến tháng 10 (420% - 600%), chậm lại từ tháng 10 đến tháng 3 (1,52- 150%) và tăng cao từ tháng 3 đến tháng 5 (195,67- 758,5).
* Nghêu thương phẩm :
Tốc độ tăng trưởng của nghêu giống và nghêu thương phẩm vào mùa mưa chậm hơn nhiều so với mùa khô, do có sự biến đổi lớn theo mùa của các yếu tố môi trường như nhiệt độ nước, độ trong, độ mặn, nguồn thức ăn thực vật nổi.
2.2. Ðộ no của nghêu thương phẩm
Khả năng bắt mồi của nghêu vào mùa mưa tốt hơn, nên nghêu no chiếm tỉ lệ thấp hơn nhiều (35%-55%) so với mùa khô (80%-100%).
2.3 Sự phát triển tuyến sinh dục
Sự biến động chỉ số thành thục của nghêu theo quy luật khá rõ nét. Khi nghêu có sự biến đổi chỉ số thành thục từ cao xuống thấp, đồng thời sau đó là mùa sinh sản. Trong năm, nghêu có chỉ số thành thục cao vào 2 thời kỳ. Nghêu sinh sản hằng năm vào 2 mùa sinh sản chính và phụ.
Chukỳ thành thục tuyến sinh dục và sinh sản của nghêu :
Tháng 1 : Hầu hết nghêu đã qua thời kỳ sinh sản và đang hình thành những tế bào nguyên sinh.
Tháng 2 - 3 : Bắt đầu chuẩn bị chất dinh dưỡng cho mùa sinh sản mới vào tháng 3, hầu hết nghêu ở giai đoạn III và IV.
Tháng 4 : Tuyến sinh dục phát triển vào đầu giai đoạn III và cuối giai đoạn IV.
Tháng 5 : Chuẩn bị sinh sản, khoảng 11,11% đang trong quá trình sinh sản.
Tháng 6 : Tỷ lệ nghêu thành thục cao sẵn sàng tham gia sinh sản. Một số đã sinh sản, tế bào sinh dục con non chưa đi vào giai đoạn biệt hóa giới tính.
Tháng 7 : Kết thúc sinh sản, một số đang sinh sản. Các cá thể chuẩn bị sinh sản vào tháng 7 hoàn toàn là con đực.
Tháng 8 - 9 : Nghêu đã đẻ xong, con đực tái phát dục nhiều hơn con cái.
Tháng 10 - 11 : Hầu hết nghêu đã kết thúc sinh sản và đang thành thục trở lại.
2.4 Một số chỉ tiêu sản lượng chính của nghêu ở ÐBSCL :
* Nghêu giống :
ở Tân Thành, diện tích nghêu giống khoảng 150 -200 ha, ước tính sản lượng giống từ 14.250 19.000 tấn. Tương ứng, ở Thạch Phú là 101,5 -122 ha và 5.367 6.452 tấn, ở Bình Ðại 358 -460 ha và 27.785 35.321 tấn.
* Nghêu thương phẩm :
Trong 3 vùng nuôi và khai thác, huyện Gò Công có sản lượng cao nhất (36.415 tấn), Ba Tri (16.607 tấn), thấp nhất là Bình Ðại chỉ khai thác tự nhiên khoảng 1.052 tấn.
* Mùa vụ nghêu giống ở ÐBSCL
Nghêu đẻ 2 vụ/năm, mùa sinh sản chính từ tháng 6 9, mùa vụ sinh sản phụ từ tháng 12 2 năm sau.
3 .Thăm dò sinh sản nhân tạo :
3.1 Kích thích sinh sản :
- Ðợt 1 (ngày 17/5) : Chỉ có 2 con đực tham gia sinh sản trong số 30 cá thể thí nghiệm, nhưng tế bào sinh dục chưa chín muồi, do quá trình vận chuyển nghêu bố mẹ lâu làm ảnh hưởng đến sức khỏe nghêu nên mặc dù nghêu thành thục sinh dục ở giai đoạn IV không thể tham gia sinh sản.
- Ðợt 2 (ngày 13/7) : Thí nghiệm trên 80 cá thể nhưng chỉ có một con đực phóng tính do thời điểm này hầu hết nghêu bố mẹ tự nhiên đã qua thời kỳ sinh sản.
3.2 Nuôi vỗ nghêu bố mẹ :
Kết quả 7 đợt thí nghiệm từ tháng 5- 11/1999 (bảng 1)
Nghêu có thể sống trong thời gian dài (hơn 1 tháng) trong môi trường nuôi thí nghiệm với hệ thống nước tuần hoàn, lượng nước thay đổi mỗi ngày không dưới 10% và độ mặn từ 24-27 0/00, thức ăn chính là tảo và bánh mì.
Bảng 1. Một số yếu tố kỹ thuật và môi trường nuôi vỗ nghêu bố mẹ
Các yếu tố Ðợt thí nghiệm: ngày/tháng | Các tiêu chuẩn kỹ thuật | Các yếu tố môi trường | Tỷ lệ chết (% số ngày nuôi) | ||||||
Số cá thể nuôi | Khẩu phần ăn | Chế độ thay nước | t o ( 0C ) | pH | Ôxy (mg/l) | Ðộ mặn (%o) | |||
Tảo (tb/l) | Men (g/kg) | ||||||||
1:17 - 23/5 | 30 | 8.10 5 | 1 | 5% ngày thứ 3 5% ngày thứ 4 | 26,5 | 7,8-8,0 | 6,4-6,5 | 30 | 73% /4 ngày 100%/6 ngày |
2:13 - 18/6 | 30 | 8.10 5 | 1 | 5% ngày thứ 4 | 26,5 | 8,0 | 6,4-6,5 | 30 | 60% /2 ngày 100%/ 5 ngày |
3:13 - 21/7 | 49 | 8.10 5 | 1 | Cách ngày thay 5% | 26.5 | 7,8-8,0 | 6,4-6,5 | 27 | 22,5%/6 ngày 71,4/7ngày 100%/8ngày |
4:5 - 8/8 | 30 | 8.10 5 | 1 | Cách ngày thay 5% | 26,7 | 8,1 | 6,5 | 27 | 100%/3ngày |
5:10 - 15/8 | 27 | 8.10 5 | 1-2 | Cách ngày thay 5% | 26,7 | 8,0 | 6,7 | 27 | 14,8%/3ngày 81,5%/4ngày 100%/5ngày |
6:28/8 - 8/9 | 32 | 8.10 5 | 1 | 3 ngày thay nước 2 lần, mỗi lần 5% | 26,5 | 7,7 | 6,8 | 27 | 3%/3ngày 37,5%/4ngày 100%/11ngày |
7:9/10 - 11/11 | 80 | 8.10 5 | 0,5-1 | - 5%/ngày (10 ngày đầu ) - 10%/ngày(16 ngày kế tiếp) - 15%/ngày (những ngày còn lại) | 26,5 đến 27 | 7,7-8,0 | 6,8 | 24-27 | 0%/21ngày 1,25%/22 ngày nuôi 2,5%/23ngày 8,75%/32 ngày nuôi |
4. Nghề nuôi nghêu ở Tiền Giang và Bến Tre
4.1. Hiện trạng
Diện tích nuôi ở Gò Công Ðông biến động do phụ thuộc vào nguồn giống tự nhiên: tăng từ 224 ha (năm 1990) đến 1.670 ha (năm 1995), năm 1996 giảm còn 500ha, và đến tháng 8/1998 khi nghêu giống tự nhiên xuất hiện, diện tích nuôi tăng lên 1.300ha.
Huyện Ba Tri có diện tích nuôi ổn định. Tại Thạnh Phú, Bình Ðại hình thức nuôi chủ yếu là giữ giống tự nhiên sau đó thu hoạch.
4.2 Kỹ thuật nuôi :
- Chuẩn bị bãi nuôi : Làm vệ sinh bãi và làm hàng rào bảo vệ.
- Thả giống : Gồm 2 loại, giống cỡ nhỏ và giống cỡ lớn.
Giống nhỏ : cỡ trung bình 62.200 con/kg (12.000-100.000 con/kg), thả 5,4 tấn/ha, rải đều trên 55,14% tổng diện tích ương nuôi và ương nuôi 10-12 tháng. Thu hoạch trung bình đạt cỡ 755 con/kg (500 1000 con/kg) tỷ lệ sống 70 - 80%.
Giống lớn : Vùng Tiền Giang thả giống cỡ trung bình 1.749 con/kg (140 - 9.000 con/kg) nhỏ hơn nhiều so với giống ở Bến Tre cỡ trung bình 1.069 con/kg (300 - 2.600 con/kg).
Tiền Giang và Bến Tre thả cỡ giống, khối lượng thả và cỡ nghêu thu hoạch rất khác nhau, nhưng thời gian và năng suất thu hoạch gần như nhau.
4.3 Ðánh giá mô hình nuôi nghêu
Kết quả phân tích kinh tế với mô hình nuôi nghêu ở Tiền Giang và Bến Tre cho thấy việc đầu tư cho nuôi nghêu chủ yếu tập trung vào con giống, tiếp đến là lao động thu hoạch. Tuy nhiên, nuôi nghêu cỡ nhỏ ở Tiền Giang chi phí cho giống ít hơn và hiệu quả kinh tế cao hơn, thể hiện qua mức lãi ròng và tỷ lệ thu nhập trên vốn đầu tư cao hơn so với Bến Tre.
Bảng 2. Diện tích và năng suất nuôi từ năm 1996 1998 của huyện Gò Công Ðông, Ba Tri, Bình Ðại, Thạnh Phú
Gò Công Ðông | Ba Tri | Bình Ðại | Thạnh Phú | |||||||||
1996 | 1997 | 1998 | 1996 | 1997 | 1998 | 1996 | 1997 | 1998 | 1996 | 1997 | 1998 | |
Số hộ nuôi | 132 | 1.499 | 1.054 | 640 | ||||||||
Diện tích có khả năng nuôi (ha) | 1.670 | 1.670 | 1.670 | 1.395 | 1.395 | 1.395 | 2.200 | 2.200 | 2.200 | 700 | 700 | 700 |
Diện tích nuôi (ha) | 800 | 1200 | 1.300 | 825 | 825 | 825 | 300 | 900 | 1600 | 170 | 170 | 170 |
Năng suất (tấn/ha) | 11-20 | 15-20 | 15-20 | 15-20 | 15-20 | 15-20 | 3.941 | 567 | 731 | |||
Bảng 3. Diện tích sản lượng nuôi nghêu của huyện Gò Công Ðông từ 1990-1998
Năm | 1990 | 1991 | 1992 | 1993 | 1994 | 1995 | 1996 | 1997 | 1998 |
DT (ha) | 224 | 300 | 850 | 1.350 | 1.450 | 1.670 | 800 | 1.200 | 1.300 |
SL (tấn) | 3.380 | 5.100 | 16.660 | 16.200 | 24.650 | 30.987 | 5.780 | 16.000 |
II. Kết luận
- Xác định được các yếu tố sinh thái cơ bản vùng bãi nghêu, mùa vụ mà các yếu tố môi trường có chiều hướng thuận lợi cho sự sinh sản, bắt mồi và tăng trưởng của nghêu.
- ở giai đoạn kích thước nhỏ (nghêu cám, từ tháng 8-10/1998) tốc độ tăng trưởng nghêu giống rất nhanh, sau đó giảm dần đến tháng 3/1999, từ tháng 3 - 5 khi môi trường thuận lợi nghêu tăng trọng rất nhanh.
- Từ tháng 8-12 tốc độ tăng trưởng nghêu thương phẩm chậm, tỷ lệ nghêu có độ no cao thấp (15-55%); từ tháng 12-8 năm sau: tăng trưởng nhanh và nghêu có độ no cao chiếm 80-100%. Nghêu có kích thước H<20mm tăng trọng chậm hơn nghêu có H>20 mm. Hệ số tương quan chiều dài khối lượng là R2 = 0,9566.
- Có hiện tượng lưỡng tính ở nghêu Meretrix lyrata ở ÐBSCL, nghêu sinh sản hằng năm : mùa chính (tháng 5 - 7) và mùa phụ (tháng 11 - 1) với tỷ lệ đực/cái tự nhiên là 1/1.
- Nguồn lợi nghêu giống ở vùng cửa sông ven biển Gò Công, Bình Ðại và Thạch Phú liên quan đến nhiều yếu tố trong đó quan trọng nhất là nguồn lợi nghêu bố mẹ và các điều kiện môi trường tự nhiên. Tuy nhiên, yếu tố môi trường (mưa lũ, dòng chảy, sóng gió, độ muối...) ảnh hưởng chính đến nguồn lợi và sản lượng nghêu giống.
- Kết quả nghiên cứu nghêu năm 1999 cho thấy nghêu có tuyến sinh dục phát triển có thể tham gia sinh sản từ tháng 5 - 7. Việc kích thích sinh sản sau thời gian này rất khó khăn.
- Có thể lưu giữ và nuôi vỗ nghêu trong điều kiện phòng thí nghiệm với hệ thống nước tuần hoàn, lượng nước thay đổi mỗi ngày không dưới 10%, duy trì sục khí và độ mặn 24-27%o với nguồn thức ăn là tảo đơn bào và men bánh mì.
- Nghề nuôi nghêu ở Tiền Giang và Bến Tre phụ thuộc vào con giống. Diện tích tiềm năng nuôi nghêu khá lớn, nhưng sử dụng còn nhiều biến động nên sản lượng không ổn định. Kết quả phân tích hàm sản xuất cho thấy việc tăng vốn đầu tư và tăng mật độ nuôi là 2 chỉ tiêu không cần thay đổi nhiều vì độ tin cậy của 2 yếu tố này là >90 %. Việc tăng cường kỹ thuật nuôi mới sẽ có ý nghĩa hơn do độ tin cậy < 80%.








