Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ bảy, 15/09/2007 00:06 (GMT+7)

Nguồn lợi loài nghêu ở Ðồng Bằng sông Cửu Long

I. Kết quả nghiên cứu

1. Một số chỉ tiêu môi trường

1.1 Khí tượng thủy văn

Các yếu tố khí tượng thủy văn có ảnh hưởng đến mùa vụ sinh sản của nghêu, như tháng 6 có nhiệt độ không khí, nước, tốc độ gió, số ngày mưa ... là yếu tố kích thích tác động thuận lợi cho quá trình thành thục và sinh sản của nghêu.

1.2 . Các chỉ tiêu môi trường nước chính

Nhiệt độ nước, độ trong, độ mặn, tổng số chất rắn lơ lửng trong nước, pH, ôxy hòa tan, CO2, COD và BOD, năng suất sinh học, thực vật nổi.

1.3. Các chỉ tiêu trên đất và phù sa trên các bãi nghêu

Cơ cấu nền bãi nghêu giống và nghêu thương phẩm chủ yếu được cấu tạo do bồi lắng phù sa. Các kim loại như Fe3+ ,Al3+ tuy có biến động theo thời gian thu mẫu nhưng mức thấp và không nguy hại đối với sự sinh trưởng của nghêu.

1.4. Các chỉ tiêu vi khuẩn

Tổng số vi khuẩn hiếu khí sinh H2S và nhóm Vibrio ở mức thấp, không thấy các vi khuẩn thuộc nhóm Vibrio có khả năng gây bệnh cho động vật thủy sinh. Ðiều đó chứng tỏ nước và nền bãi vùng nuôi nghêu khá sạch và ổn định.

2. Một số chỉ tiêu sinh học chính của nghêu giống và nghêu thương phẩm ở ÐBSCL

2.1. Sinh trưởng

* Nghêu giống :

ở giai đoạn giống nhỏ, nghêu giống tăng trưởng mạnh từ tháng 8 đến tháng 10 (420% - 600%), chậm lại từ tháng 10 đến tháng 3 (1,52- 150%) và tăng cao từ tháng 3 đến tháng 5 (195,67- 758,5).

* Nghêu thương phẩm :

Tốc độ tăng trưởng của nghêu giống và nghêu thương phẩm vào mùa mưa chậm hơn nhiều so với mùa khô, do có sự biến đổi lớn theo mùa của các yếu tố môi trường như nhiệt độ nước, độ trong, độ mặn, nguồn thức ăn thực vật nổi.

2.2. Ðộ no của nghêu thương phẩm

Khả năng bắt mồi của nghêu vào mùa mưa tốt hơn, nên nghêu no chiếm tỉ lệ thấp hơn nhiều (35%-55%) so với mùa khô (80%-100%).

2.3 Sự phát triển tuyến sinh dục

Sự biến động chỉ số thành thục của nghêu theo quy luật khá rõ nét. Khi nghêu có sự biến đổi chỉ số thành thục từ cao xuống thấp, đồng thời sau đó là mùa sinh sản. Trong năm, nghêu có chỉ số thành thục cao vào 2 thời kỳ. Nghêu sinh sản hằng năm vào 2 mùa sinh sản chính và phụ.

Chukỳ thành thục tuyến sinh dục và sinh sản của nghêu :

Tháng 1 : Hầu hết nghêu đã qua thời kỳ sinh sản và đang hình thành những tế bào nguyên sinh.

Tháng 2 - 3 : Bắt đầu chuẩn bị chất dinh dưỡng cho mùa sinh sản mới vào tháng 3, hầu hết nghêu ở giai đoạn III và IV.

Tháng 4 : Tuyến sinh dục phát triển vào đầu giai đoạn III và cuối giai đoạn IV.

Tháng 5 : Chuẩn bị sinh sản, khoảng 11,11% đang trong quá trình sinh sản.

Tháng 6 : Tỷ lệ nghêu thành thục cao sẵn sàng tham gia sinh sản. Một số đã sinh sản, tế bào sinh dục con non chưa đi vào giai đoạn biệt hóa giới tính.

Tháng 7 : Kết thúc sinh sản, một số đang sinh sản. Các cá thể chuẩn bị sinh sản vào tháng 7 hoàn toàn là con đực.

Tháng 8 - 9 : Nghêu đã đẻ xong, con đực tái phát dục nhiều hơn con cái.

Tháng 10 - 11 : Hầu hết nghêu đã kết thúc sinh sản và đang thành thục trở lại.

2.4 Một số chỉ tiêu sản lượng chính của nghêu ở ÐBSCL :

* Nghêu giống :

ở Tân Thành, diện tích nghêu giống khoảng 150 -200 ha, ước tính sản lượng giống từ 14.250 19.000 tấn. Tương ứng, ở Thạch Phú là 101,5 -122 ha và 5.367 6.452 tấn, ở Bình Ðại 358 -460 ha và 27.785 35.321 tấn.

* Nghêu thương phẩm :

Trong 3 vùng nuôi và khai thác, huyện Gò Công có sản lượng cao nhất (36.415 tấn), Ba Tri (16.607 tấn), thấp nhất là Bình Ðại chỉ khai thác tự nhiên khoảng 1.052 tấn.

* Mùa vụ nghêu giống ở ÐBSCL

Nghêu đẻ 2 vụ/năm, mùa sinh sản chính từ tháng 6 9, mùa vụ sinh sản phụ từ tháng 12 2 năm sau.

3 .Thăm dò sinh sản nhân tạo :

3.1 Kích thích sinh sản :

- Ðợt 1 (ngày 17/5) : Chỉ có 2 con đực tham gia sinh sản trong số 30 cá thể thí nghiệm, nhưng tế bào sinh dục chưa chín muồi, do quá trình vận chuyển nghêu bố mẹ lâu làm ảnh hưởng đến sức khỏe nghêu nên mặc dù nghêu thành thục sinh dục ở giai đoạn IV không thể tham gia sinh sản.

- Ðợt 2 (ngày 13/7) : Thí nghiệm trên 80 cá thể nhưng chỉ có một con đực phóng tính do thời điểm này hầu hết nghêu bố mẹ tự nhiên đã qua thời kỳ sinh sản.

3.2 Nuôi vỗ nghêu bố mẹ :

Kết quả 7 đợt thí nghiệm từ tháng 5- 11/1999 (bảng 1)

Nghêu có thể sống trong thời gian dài (hơn 1 tháng) trong môi trường nuôi thí nghiệm với hệ thống nước tuần hoàn, lượng nước thay đổi mỗi ngày không dưới 10% và độ mặn từ 24-27 0/00, thức ăn chính là tảo và bánh mì.

Bảng 1. Một số yếu tố kỹ thuật và môi trường nuôi vỗ nghêu bố mẹ

Các yếu tố

Ðợt thí nghiệm: ngày/tháng

Các tiêu chuẩn kỹ thuật

Các yếu tố môi trường

Tỷ lệ chết (% số ngày nuôi)

Số cá thể nuôi

Khẩu phần ăn

Chế độ thay nước

t o

( 0C )

pH

Ôxy

(mg/l)

Ðộ mặn

(%o)

Tảo

(tb/l)

Men

(g/kg)

1:17 - 23/5

30

8.10 5

1

5% ngày thứ 3

5% ngày thứ 4

26,5

7,8-8,0

6,4-6,5

30

73% /4 ngày

100%/6 ngày

2:13 - 18/6

30

8.10 5

1

5% ngày thứ 4

26,5

8,0

6,4-6,5

30

60% /2 ngày

100%/ 5 ngày

3:13 - 21/7

49

8.10 5

1

Cách ngày thay 5%

26.5

7,8-8,0

6,4-6,5

27

22,5%/6 ngày

71,4/7ngày

100%/8ngày

4:5 - 8/8

30

8.10 5

1

Cách ngày thay 5%

26,7

8,1

6,5

27

100%/3ngày

5:10 - 15/8

27

8.10 5

1-2

Cách ngày thay 5%

26,7

8,0

6,7

27

14,8%/3ngày

81,5%/4ngày

100%/5ngày

6:28/8 - 8/9

32

8.10 5

1

3 ngày thay nước 2 lần, mỗi lần 5%

26,5

7,7

6,8

27

3%/3ngày

37,5%/4ngày

100%/11ngày

7:9/10 - 11/11

80

8.10 5

0,5-1

- 5%/ngày (10 ngày đầu )

- 10%/ngày(16 ngày kế tiếp)

- 15%/ngày (những ngày còn lại)

26,5 đến 27

7,7-8,0

6,8

24-27

0%/21ngày

1,25%/22 ngày nuôi

2,5%/23ngày

8,75%/32 ngày nuôi

4. Nghề nuôi nghêu ở Tiền Giang và Bến Tre

4.1. Hiện trạng

Diện tích nuôi ở Gò Công Ðông biến động do phụ thuộc vào nguồn giống tự nhiên: tăng từ 224 ha (năm 1990) đến 1.670 ha (năm 1995), năm 1996 giảm còn 500ha, và đến tháng 8/1998 khi nghêu giống tự nhiên xuất hiện, diện tích nuôi tăng lên 1.300ha.

Huyện Ba Tri có diện tích nuôi ổn định. Tại Thạnh Phú, Bình Ðại hình thức nuôi chủ yếu là giữ giống tự nhiên sau đó thu hoạch.

4.2 Kỹ thuật nuôi :

- Chuẩn bị bãi nuôi : Làm vệ sinh bãi và làm hàng rào bảo vệ.

- Thả giống : Gồm 2 loại, giống cỡ nhỏ và giống cỡ lớn.

Giống nhỏ : cỡ trung bình 62.200 con/kg (12.000-100.000 con/kg), thả 5,4 tấn/ha, rải đều trên 55,14% tổng diện tích ương nuôi và ương nuôi 10-12 tháng. Thu hoạch trung bình đạt cỡ 755 con/kg (500 1000 con/kg) tỷ lệ sống 70 - 80%.

Giống lớn : Vùng Tiền Giang thả giống cỡ trung bình 1.749 con/kg (140 - 9.000 con/kg) nhỏ hơn nhiều so với giống ở Bến Tre cỡ trung bình 1.069 con/kg (300 - 2.600 con/kg).

Tiền Giang và Bến Tre thả cỡ giống, khối lượng thả và cỡ nghêu thu hoạch rất khác nhau, nhưng thời gian và năng suất thu hoạch gần như nhau.

4.3 Ðánh giá mô hình nuôi nghêu

Kết quả phân tích kinh tế với mô hình nuôi nghêu ở Tiền Giang và Bến Tre cho thấy việc đầu tư cho nuôi nghêu chủ yếu tập trung vào con giống, tiếp đến là lao động thu hoạch. Tuy nhiên, nuôi nghêu cỡ nhỏ ở Tiền Giang chi phí cho giống ít hơn và hiệu quả kinh tế cao hơn, thể hiện qua mức lãi ròng và tỷ lệ thu nhập trên vốn đầu tư cao hơn so với Bến Tre.

Bảng 2. Diện tích và năng suất nuôi từ năm 1996 1998 của huyện Gò Công Ðông, Ba Tri, Bình Ðại, Thạnh Phú

Gò Công Ðông

Ba Tri

Bình Ðại

Thạnh Phú

1996

1997

1998

1996

1997

1998

1996

1997

1998

1996

1997

1998

Số hộ nuôi

132

1.499

1.054

640

Diện tích có khả năng nuôi (ha)

1.670

1.670

1.670

1.395

1.395

1.395

2.200

2.200

2.200

700

700

700

Diện tích nuôi (ha)

800

1200

1.300

825

825

825

300

900

1600

170

170

170

Năng suất (tấn/ha)

11-20

15-20

15-20

15-20

15-20

15-20

3.941

567

731

Bảng 3. Diện tích sản lượng nuôi nghêu của huyện Gò Công Ðông từ 1990-1998

Năm

1990

1991

1992

1993

1994

1995

1996

1997

1998

DT (ha)

224

300

850

1.350

1.450

1.670

800

1.200

1.300

SL (tấn)

3.380

5.100

16.660

16.200

24.650

30.987

5.780

16.000

II. Kết luận

- Xác định được các yếu tố sinh thái cơ bản vùng bãi nghêu, mùa vụ mà các yếu tố môi trường có chiều hướng thuận lợi cho sự sinh sản, bắt mồi và tăng trưởng của nghêu.

- ở giai đoạn kích thước nhỏ (nghêu cám, từ tháng 8-10/1998) tốc độ tăng trưởng nghêu giống rất nhanh, sau đó giảm dần đến tháng 3/1999, từ tháng 3 - 5 khi môi trường thuận lợi nghêu tăng trọng rất nhanh.

- Từ tháng 8-12 tốc độ tăng trưởng nghêu thương phẩm chậm, tỷ lệ nghêu có độ no cao thấp (15-55%); từ tháng 12-8 năm sau: tăng trưởng nhanh và nghêu có độ no cao chiếm 80-100%. Nghêu có kích thước H<20mm tăng trọng chậm hơn nghêu có H>20 mm. Hệ số tương quan chiều dài khối lượng là R2 = 0,9566.

- Có hiện tượng lưỡng tính ở nghêu Meretrix lyrata ở ÐBSCL, nghêu sinh sản hằng năm : mùa chính (tháng 5 - 7) và mùa phụ (tháng 11 - 1) với tỷ lệ đực/cái tự nhiên là 1/1.

- Nguồn lợi nghêu giống ở vùng cửa sông ven biển Gò Công, Bình Ðại và Thạch Phú liên quan đến nhiều yếu tố trong đó quan trọng nhất là nguồn lợi nghêu bố mẹ và các điều kiện môi trường tự nhiên. Tuy nhiên, yếu tố môi trường (mưa lũ, dòng chảy, sóng gió, độ muối...) ảnh hưởng chính đến nguồn lợi và sản lượng nghêu giống.

- Kết quả nghiên cứu nghêu năm 1999 cho thấy nghêu có tuyến sinh dục phát triển có thể tham gia sinh sản từ tháng 5 - 7. Việc kích thích sinh sản sau thời gian này rất khó khăn.

- Có thể lưu giữ và nuôi vỗ nghêu trong điều kiện phòng thí nghiệm với hệ thống nước tuần hoàn, lượng nước thay đổi mỗi ngày không dưới 10%, duy trì sục khí và độ mặn 24-27%o với nguồn thức ăn là tảo đơn bào và men bánh mì.

- Nghề nuôi nghêu ở Tiền Giang và Bến Tre phụ thuộc vào con giống. Diện tích tiềm năng nuôi nghêu khá lớn, nhưng sử dụng còn nhiều biến động nên sản lượng không ổn định. Kết quả phân tích hàm sản xuất cho thấy việc tăng vốn đầu tư và tăng mật độ nuôi là 2 chỉ tiêu không cần thay đổi nhiều vì độ tin cậy của 2 yếu tố này là >90 %. Việc tăng cường kỹ thuật nuôi mới sẽ có ý nghĩa hơn do độ tin cậy < 80%.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Chuẩn hóa nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc vì sự phát triển bền vững của y học tái tạo
Sáng 18/7, tại Khách sạn Melia Hà Nội, Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Tế bào (tổ chức KH&CN trực thuộc VUSTA) phối hợp cùng Longevity Medical System (LMS) và Báo Sức khỏe và Đời sống tổ chức hội thảo khoa học quốc tế với chủ đề “Tế bào gốc: Từ nghiên cứu lâm sàng đến ứng dụng thực tiễn”.
Khai mạc hội nghị Khoa học và Triển lãm quốc tế về Điều khiển và Tự động hóa lần thứ 8
Với chủ đề “Tự động hoá thông minh - công nghệ chiến lược của Kỷ nguyên số”, hội nghị Khoa học và Triển lãm quốc tế về Điều khiển và Tự động hóa lần thứ 8 (VCCA 2026) đã khai mạc sáng 16/7 tại Trường Đại học Quy Nhơn (tỉnh Gia Lai). Sự kiện quy tụ gần 400 trăm nhà khoa học, chuyên gia, doanh nghiệp trong nước và quốc tế nhằm chia sẻ các xu hướng công nghệ chiến lược.
Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới"
Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới". Trân trọng giới thiệu toàn văn Chỉ thị.
Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.