Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 12/06/2007 00:07 (GMT+7)

Nghiên cứu về tiếng bập bẹ của trẻ

Các âm thanh do trẻ phát ra khi chúng nói hay bập bẹ được cho là chìa khoá để tìm hiểu sự phát triển của ngôn ngữ. Theo tờ tạp chí Khoa học (Science) của Mỹ, hai nhà nghiêng cứu cở Trường Đại học Texas đã phát hiện ra rằng bốn mô hình từ thường được trẻ dùng lại chính là những từ đầu tiên, chúng từng nói (Holowka & Pettito, 2002). Cách thức chúng ta nói được phát triển theo một cách thức nhất định bởi những chuyển động tự nhiên của miệng. Các âm thành dễ nhất mà chúng ta tạo ra là khi ta nâng hàm dưới lên và hạ nó xuống. Chính những âm này có thể là chìa khoá cho việc phát triển ngôn ngữ. Khoảng 60 – 80% các âm do trẻ trên toàn thế giới tạo ra đã được cấu âm theo các cách thức chuyển động tự nhiên như vậy (Hawkins, 1987; MacNeilage & Davis, 2000).

Có thể thấy danh sách các từ chỉ bố mẹtrong một số ngôn ngữ tiêu biểu như bảng dưới đây. Từ những năm 50 của thế kỉ trước nhà nhân học Mĩ George P. Murdock đã khảo sát lớp từ chỉ “mẹ” và “bố” trong 470 ngôn ngữ trên thế giới.

Tác giả đã phát hiện ra rằng từ chỉ “mẹ” có dạng âm tiết là ma, mẹhay motrong 52% ngôn ngữ ông đã khảo sát và từ chỉ “bố” có dang âm tiết là pahay po, tahay totrong 55% ngôn ngữ đã khảo sát (Murdock, 1957). Sau đây là một số ví dụ:

Ngôn ngữ

Mother

Father

Swahili

Mama

Baba

Kikuyu (Tây Phi)

Nana

Baba

Xhosa ( Nam Phi)

-mama

-tata

Tagalog ( Philippines )

Nanay

Tatay

Malay

Emak

Bapa

Romanian

Mama

Tata

Welsh

Mam

Tad

Urdu

Mang

Bap

Turkish

Ana, anne

Baba

Pipil ( El Salvador )

Naan

Tatah

Kodon ( New Guinea )

Amy

Bap

Basque

Ama

Aita

Hungarian

Anya

Apa

Dakota (Mỹ)

Ena

Ate

Nahuatl ( Mexico )

Naan

Ta’

Luo ( Kenya )

Mama

Baba

Apalai (Amazon)

Aya

Papa

Chechen ( Caucasus)

Naana

Daa

Cree ( Canada )

-mama

-papa

Quechua ( Ecuador )

Mama

Tayta

Madarin Chinese

Mama

Baba

Việt

Mỏ/mẹ

Ba/bố

(Bảng trên được trích từ công trình về từ chỉ “bố mẹ” trong các ngôn ngữ trên thế giới của Murdock (1957). Thí dụ tiếng Việt trong bảng là chúng tôi mới bổ sung vào (P.H)).

Những gợi mở trong bài báo của Murdock đã thôi thúc Jakobson viết một bài báo cũng rất nổi tiếng cho tập Các bình diện của lí thuyết tâm lí họcnăm 1959. Trong bài báo này Jakobson cho rằng “các cái tên chỉ “mẹ” hay “bố” trong giai đoạn “mầm” là những đơn vị có nghĩa đầu tiên nảy sinh từ lời nói của trẻ (infant) và chúng vốn dựa trên sự lưỡng phân giữa phụ âm tối ưu và nguyên âm tối ưu” (Jakobson & Halle, 1957). Ngay khi đứa trẻ chuyển từ các hoạt động bập bẹ sang giai đoạn tiếp thu ngôn ngữ đầu tiên thì chúng đã gắn bó với cái mô hình “phụ âm cộng nguyên âm” (Jakobson, 1971:25).

Bốn mô hình từ thường gặp ở trẻ bập bẹ mà các nhà nghiên cứu ở trường Đại học Texas đưa ra là các âm như “ma – ma”, “da – da”, “ba – ba” và “ta – ta”. Các âm này rất thông dụng trong nhiều ngôn ngữ và chúng tạo thành những từ đầu tiên mà trẻ nhỏ học khi chúng bắt đầu học nói. Như vậy quan điểm của Jakobson, sau gần 40 năm, đã được kiểm chứng lại và được chia sẻ trong những người nghiên cứu về ngôn ngữ trẻ em.

John Locke, một chuyên gia về ngôn ngữ học và ngôn ngữ trẻ em ở Trường Đại học Cambridge cho rằng “chính điều này là một điều đặc biệt. Ngay cả khi không cần có bất cứu chuyển động nào khác, chỉ cần đưa lưỡi ra phía trước miệng giống như khi ăn là đã có thể có các âm như “da – da” …. “ta – ta” … “na – na” hay “ya – ya” (Locke, 2000). Những âm này chính là đa số các âm mà trẻ bập bẹ tạo ra. Chúng cũng được trẻ con phát âm chuẩn hơn cả và dường như chúng có mặt trong hầu hết các ngôn ngữ trên thế giới. Giáo sư Locke cũng cho rằng (ngôn ngữ) trẻ em có lẽ là một nguồn dữ liệu cho việc nghiên cứu và tìm hiểu các ngôn ngữ của chúng ta đã hình thành qua hàng nghìn năm như thế nào. Cũng theo ông thì hoàn toàn có khả năng rằng những đứa trẻ cổ xưa đã sản sinh ra các âm giống như các đứa trẻ hiện đại phát ra và giống như là việc ngôn ngữ phát triển các âm này.

Các nhà nghiên cứu đã phân tích chuyển động miệng của trẻ lúc trẻ bập bẹ, lúc cười hay lúc chúng tạo ra các âm thanh khác và đã đưa ra kết luận rằng các âm do trẻ phát ra xuất phát trực tiếp từ những cố gắng nắm được ngôn ngữ và lời nói của trẻ. Laura – Ann Petitto, giáo sư tâm lí học và khoa học về não của Dartmouth College, đồng thời là tác giả chính của công trình nghiên cứu có tên “Trẻ em thực sự xây dựng một hệ thống tri thức âm thanh trong ngôn ngữ của chúng” cho rằng khi một đứa trẻ bập bẹ “rất khó để có thể tìm ra hệ thống âm thanh trong ngôn ngữ của chúng và làm sao các âm này lại được đặt cạnh nhau”. Trong một nghiên cứu mới đây, trong đó nghiên cứu 10 đứa trẻ từ 5 đến 12 tháng tuổi, bà cho rằng các âm thanh đặc trưng của tiếng bập bẹ của trẻ được kích thích bởi các tín hiệu từ một vùng của não trong khi các âm thanh khác hay các chuyển động của miệng lại do các vùng khác trong não chỉ huy. Tác giả cho rằng “chính điều này gợi mở rằng các chức năng của ngôn ngữ được chuyên biệt hoá trong não từ rất sớm”. Cũng trong nghiên cứu này, các tác giả đã phân tích chuyển động của trẻ khi chúng bập bẹ, khi chúng tạo ra các âm thanh khác, và khi chúng cười. Những đứa trẻ này, bao gồm 5 trẻ trong gia đình nói tiếng Anh và 5 đứa trẻ trong gia đình nói tiếng Pháp, đã được quay phim khi chúng tạo ra âm thanh. Đoạn phim sau đó được làm chậm lại để các nhà nghiên cứu có thể phân tích kĩ các chuyển động của miệng.

Các tác giả đã phát hiện ra rằng khi trẻ bập bẹ, chuyển động rõ ràng hơn ở phía bên phải của miệng. Còn khi trẻ cười thì phía bên trái của miệng lại mở rộng hơn. Đối với các phát âm ngẫu nhiêm thì miệng lại cân đối với cả hai bên đều hoạt động bằng nhau. Petitto cho rằng sự khác biệt về chuyển động này phản ánh trực tiếp các vùng đang điều khiển hoạt động của miệng. Khi đứa trẻ cất những tiếng bập bẹ thì phía bên phải của miệng có độ mở rộng hơn và nó xệ xuống một chút. “Cũng vậy, khi đứa trẻ cười thì phía bên trái của miệng lại có độ mở lớn hơn và có thể thấy sự co lại phía quanh mắt trái”. Khi đứa trẻ phát ra những âm mà không phải là bập bẹ thì miệng mở rộng và đều. Petitto cho rằng bởi lẽ phía trái của não điều khiển phía phải của miệng nên phát hiện này cho thấy phía trái não sẽ gửi các tín hiệu để trẻ bập bẹ.

Theo Petitto thì các chuyên gia từ trước đến nay đều coi tiếng bập bẹ và các âm thanh khác của trẻ là giống nhau. Tiếng bập bẹ thực thụ phải có nguyên âm và phụ âm và một âm có dạng giống như âm tiết được lặp đi lặp lại. “Khi một đứa trẻ phát âm da-da-da-da, hay ba-ba-ba hay ga-ga-ga-ga thì chúng có thể dễ dàng nghe thấy. Đó chính là tiếng bập bẹ; nó đối lập với các âm mà trẻ phát ra bằng miệng khác, chẳng hạn như âm thanh ahhhhhh”. Các tác giả cũng lí giải tại sao lại nghiên cứu trên cả trẻ trong gia đình nói tiếng Anh và trẻ trong gia đình nói tiếng Pháp là nhằm để đảm bảo rằng các chuyển động của miệng trong thời gian trẻ bập bẹ không phải là đặc trưng của một ngôn ngữ riêng biệt nào. Các tác giả tin rằng cách thức chuyển động miệng của trẻ như vậy mang tính phổ quát, và hi vọng rằng qua cách giải mã chính xác tính bập bẹ của trẻ các nhà nghiên cứu có thể phát triển một hệ thống chẩn đoán các vấn đề về giọng nói ngay từ lúc bé và có thể bắt đầu chữa trị sớm. Bởi vì “khi trẻ em gặp vấn đề về ngôn ngữ, một trong những khó khăn lớn nhất đó là chúng ta phải chờ cho tới khi chúng nói được thì mới phát hiện ra rằng chúng bị vấn đề về ngôn ngữ”.

Như chúng ta đã biết từ cách đây vài năm nhiều người mang bầu đã mở đĩa nhạc Smart Symphony và áp vào bụng để cho thai nhi nghe với niềm tin là thai nhi trong bụng có thể nghe được và kích thích sự phát triển trí não của trẻ sau này. Các nhà nghiên cứu thì cho rằng nói với thai nhi sẽ làm cho nó nhận biết được đa dạng của dòng âm thanh lời nói - một nền tảng quan trọng của ngôn ngữ. Khi một đứa trẻ bình thường tròn một tuổi thì lượng từ vựng của nó khoảng 36 từ. Dường như hầu hết các cuộc đàm thoại của người lớn không có ý nghĩa gì với trẻ thì chúng lại có thể phân biệt được độ cao, âm điệu của lời nói.

John Locke cho rằng trẻ con bắt đầu nhận biết âm điệu của lời nói trước khi chúng ra đời. “Đứa trẻ mới sinh thích giọng nói của mẹ nó hơn không phải vì nó phân biệt được ngôn ngữ của mẹ nó với các ngôn ngữ khác mà bởi vì nó phân biệt được giọng nói của mẹ nó với giọng nói của người khác. Nếu mẹ đứa trẻ nói tiếng Đức trước khi đẻ thì sở thích của đứa trẻ sau khi đẻ sẽ là tiếng Đức”. Giáo sư Locke là một trong số những nhà khoa học bất đồng quan điểm với Chomsky – nhà ngôn ngữ học nổi tiếng thế giới. Chomsky cho rằng sự phát triển ngôn ngữ sẵn định về mặt di truyền và hoạt động độc lập với kinh nghiệm (Chomsky, 1965, 1980).

Nghiên cứu ngôn ngữ trẻ em nói chung và nghiên cứu giai đoạn bập bẹ của trẻ nói riêng là rất quan trọng và có ý nghĩa lớn trong nghiên cứu tiếp thu ngôn ngữ, sự phát triển ngôn ngữ, và nguồn gốc ngôn ngữ. Nói như Pinker S., một nhà tâm lý học thực nghiệm và khoa học tri nhận Mĩ, người đã được tạp chí Times bầu chọn là một trong số 100 người có ảnh hưởng nhất trên thế giới năm 2004 và được tạp chí Prospect của Anh bình chọn trong danh sách 100 học giả nổi tiếng năm 2005, “trẻ em giống như một người được trang bị một thiết bị âm thanh với rất nhiều nút và công tắc nhưng lại mất tài liệu hướng dẫn sử dụng. Trong hoàn cảnh này người ta sẽ phải viện tới cái mà các hacker gọi là frobbing - nghịch để kiểm soát xem nó hoạt động thế nào (tiếng Việt ta hay gọi là “vọc”). Trẻ đã được cấp cho một bộ các lệnh nơron để có thể di chuyển vị trí cấu âm theo các kiểu để có thể ảnh hưởng đến âm thanh được tạo ra. Qua việc nghe các tiếng bập bẹ của chính mình, thực tế trẻ sẽ tự ghi sách hướng dẫn sử dụng của riêng chúng; chúng học cách chuyển động cơ miệng để làm sao thay đổi được âm thanh. Đây là điều kiện tiên quyết để lặp lại lời nói của bố mẹ chúng. Nhờ chính điều này, một vài nhà khoa học máy tính tin rằng một robot tốt thì cần phải có một mô hình phần mềm nội tại mà có thể học các âm phát ra của nó qua việc quan sát kết quả các tiếng bập bẹ và tiếng gõ dập (failing) của chính nó (Pinker, 1994:266)”.

Tài liệu tham khảo

  1. Chomsky, N. (1965) – Aspects of the theory of syntax. Cambridge , Mass: M.I.T.Press.
  2. Chomsky, N. (1980) – Rules and representation. Oxford ” B. Blackwell.
  3. Elliot, A. J. (1981) – Child language. Cambridge; New York; Melbourne: Cambridge University Press.
  4. Hawkins, E. (1987) – Awareness of language: an introduction (Rev. ed). Cambridge; New York; Melbourne: Cambridg University Press.
  5. Holowka, S. & Petitto, L. A (2002). Left Hemispherre Cerebral Specialization for Babies While Babbling. Science, 297 (1515).
  6. Jakobson, R. (1968). Child language: Aphasia and phonological universals. The Hague; Paris : Mouton.
  7. Jakobson, R.(1971). Studies on child language and aphasia. The Hague : Mouton.
  8. Jakobson, R & Halle, M. (1957). Phonology in relation to phonetics. In S. Keiser(Ed), Manual of Phonetics (pp.215 – 251). Amsterdam .
  9. Locke, J. (2000). LANGUAGE: Movement Patterns in Spoken Language. Science, 449 – 451.
  10. MacNeilage, P. F., & Davis, B.l. (2000). On the Origin of Internal Structure of World Froms, Science, 288 (5465), 527 – 531.
  11. Murdock, G. P. (1957). World Ethnographic Sample. American Anthropologist.
  12. Pinker, S. (1994). The language instinct. New York : W. Morrow and Co.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Khai mạc hội nghị Khoa học và Triển lãm quốc tế về Điều khiển và Tự động hóa lần thứ 8
Với chủ đề “Tự động hoá thông minh - công nghệ chiến lược của Kỷ nguyên số”, hội nghị Khoa học và Triển lãm quốc tế về Điều khiển và Tự động hóa lần thứ 8 (VCCA 2026) đã khai mạc sáng 16/7 tại Trường Đại học Quy Nhơn (tỉnh Gia Lai). Sự kiện quy tụ gần 400 trăm nhà khoa học, chuyên gia, doanh nghiệp trong nước và quốc tế nhằm chia sẻ các xu hướng công nghệ chiến lược.
Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới"
Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới". Trân trọng giới thiệu toàn văn Chỉ thị.
Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.