Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 14/04/2006 01:07 (GMT+7)

Nét văn hoá ẩm thực Ê-đê, Mnông ở Dak Lăk

Đồng bào Ê-đê, khi ăn rau quả, thường nấu, luộc, xào với thịt, cá, hay ăn ghém. Các thứ đỗ, mè, cũng thường thấy trong các bữa ăn.

Khi làm thịt mỗi con vật, họ cắt tiết, và bao giờ cũng phải thui rồi mới vặt lông, kể cả các loài có lông vũ. Các loại thịt thì nước, luộc và nấu với rau quả, riêng thịt gà, thịt vịt, họ chỉ nấu món canh và luộc. Món thịt nướng bình thường gọi là ăm,nếu nướng cặp bằng tre có ướp gia vị gọi là ghang. Món thịt luộc gọi là tuk. Thịt nấu canh với rau quả gọi là tuk djam. Thịt kho, nấu, ninh nhừ cũng gọi như thế. Người ta nấu món thịt ướp gia vị trong ống tre lồ ô, món “thịt lam” này gọi là crim brông.Khi nướng thịt trâu, bò, để thịt chín và ăn nguội. Các loại thịt bắp, thịt mông, thịt vai của heo, trâu, bò sau khi thui chín cũng được ưa thích. Đàn ông Ê-đê cũng thích món tiết canh trâu, bò, dê. Món thịt băm sống trộn với huyết tươi ăn liền gọi là mtăh. Món tiết canh heo làm giống kiểu người Kinh thì gọi là priêng lap. Các thứ thịt rán mỡ để ăn dần, thức ăn cũng có các món quay, xào, kho ngọt, nấu đông…

Đồng bào Ê-đê làm món cá nướng gồm món ăm và món ghang. Cá luộc cũng gọi là tuk djam. Riêng món cá gói nướng gọi là kơumlà món ăn khá đặc biệt. Cá làm sạch ướp gia vị, muối, ớt, hành, hẹ, gừng, tỏi, sả, sau đùm kín lá chuối xanh rồi nướng. Người ta cho rằng món cá nướng như vậy để ngày hôm sau ăn thì mới ngon. Họ cũng có thói quen ăn sống những con cá nhỏ. Thức ăn dự trữ được làm thành mắm từ tôm, cua, cá, tép có cho gia vị vào gọi là lih…

Tục ăn trầu, hút thuốc lá cũng là tập quán của người Ê-đê, phổ biến ở những người tuổi trên 40. Họ ăn trầu vỏ, trầu thuốc, hút bằng thuốc lá cuốn hoặc ống điếu. Chủ nhà cũng hay tặng khách những nhúm thuốc lá đựng trong vò sành để tỏ lòng hiếu khách.

Trong các gia đình Êđê, người đàn bà là chủ nhà, người chủ bếp, quản lý kho lương thực, giữ ngọn lửa và lo toan những bữa ăn hàng ngày cho các thành viên. Các chị em gái, các con gái hay cháu gái cũng là người giúp việc.

Khẩu phần ăn của mọi thành viên trong gia đình được phân phối theo nguyên tắc bình quân. Có ưu tiên cho người già, trẻ con, người ốm, trẻ sơ sinh và sản phụ. Khi có khách, mọi người đều có nghĩa vụ đón tiếp. Mỗi người sử dụng riêng một quả bầu khô để uống nước hàng ngày, mà không dùng chung và không dùng lẫn của nhau… Đồng bào cũng kiêng cữ để bảo vệ các nguồn nước tự nhiên cho được trong sạch. Hiện nay, họ đã có thói quen dùng nước đun sôi, nước giếng sinh hoạt và dùng nước chè mạn, cà phê để uống.

Rượu cần là thức uống thường xuyên được đồng bào ưa dùng trong lúc khát, vừa là nhu cầu vật chất, cũng là nhu cầu tinh thần để nói chuyện, giao tiếp. Nam, nữ, trẻ, già Ê-đê đều uống được, phần nhiều nhà nào cũng có các ché rượu cần, họ sử dụng để cúng thần, hiếu hỉ, rước hồn luá, chúc sức khoẻ, cầu mùa, giải hạn… Mía là một thứ giải khát được các gia đình Ê-đê trồng, nhưng họ không kéo mật làm đường. Ngày nay, do sự phát triển kinh tế theo từng vùng, đã có nhiều gia đình Ê-đê tham gia trồng mía phục vụ cho làm đường mật, bán cho nhà máy.

Xưa kia đồng bào Ê-đê lấy mật ong từ rừng, ngày nay, ngoài lấy mật ong từ rừng thiên nhiên, họ đã biết nuôi ong lấy mật tại các vườn trong gia đình. Họ cũng trồng các loại trái cây cung cấp nhiều chất ngọt và vitamin như mít, xoài, đu đủ, cam, quýt, chôm chôm, trứng gà (ô môi), thanh long, dứa, dưa gang (dưa bở), dưa leo (dưa chuột). Hiện nay, nhiều vùng cũng trồng sầu riêng, măng cụt, vú sữa, bưởi, ổi, bơ… Họ cũng có nhiều loại sản phẩm trái cây từ rừng thiên nhiên như giống xiêm rừng, chôm chôm, nhãn rừng. Các loại cây chất bột lấy từ rừng như củ mài. Trước kia thiếu muối họ dùng các cây tre, nứa, cỏ tranh đốt hoà nước làm muối gọi là ea bao. Ngày nay, muối được cung cấp tới các buôn làng rất đầy đủ.

Ché túc Bù nau (chè thiêng. Mẹ bồng con) Với đồng bào Mnông, lương thực chính là lúa tẻ. Khi chưa có dụng cụ xay xát, và cả hiện nay còn phổ biến giã gạo bằng cối gỗ và chày tay. Cơm được nấu trong nồi đất nung. Lúc ăn dỡ ra một cái thưng đan bằng tre. Họ ăn 2 bữa chính trong ngày là bữa sáng và chiều tối. Bữa trưa thì ăn cháo trên nương, cháo được nấu từ chiều hôm trước và được đựng trong quả bầu khô. Đó là món cháo chua ( por srát), khi ăn thì tu cả bình như uống một thứ giải khát, có thể ăn cùng thịt, cá, rau, đậu… Cháo chua cũng là sở thích của họ, giống như một số dân tộc thích ăn mẻ sống. Họ sử dụng lúa nếp trong các dịp cúng bái, làm bánh, trong dịp có khách, hội hè, hoặc làm bữa ăn dọc đường khi đi xa. Ngoài ra còn có ngô, sắn, khoai lang… thường chế biến bằng cách luộc hay lùi trong tro bếp. Đồng bào Mnông cũng sử dụng một số củ rừng có bột như: brun bri, brun pung, lâo, rsang kôh, lâo siêt, tlă, bơn, ngơ gar mông… Trong bữa ăn, ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cái ngồi quây quần một chỗ, thường là bên bếp lửa hoặc dưới kho thóc.

Khi ăn họ thường bốc ăn bằng tay, thức ăn đựng trong máng tre. Ngày nay họ đã sử dụng bát, đĩa, tô, thìa.

Người phụ nữ Mnông lo toan, đảm nhiệm mọi công việc như giã gạo, lấy nước, kiếm củi, hái rau. Việc nấu nướng vào những dịp quan trọng có thêm đàn ông tham gia. Họ làm món nướng gọi là khang; món thịt trộn với huyết gia cầm gia súc và rau rừng gọi là ir kchol mtah; món lòng heo nhồi thịt gọi dung pua; món lòng heo nhồi nếp gọi là dung ba bar. Họ cũng ưa thích món lòng nai, thịt ướp muối hoặc sấy khô.

Sông, hồ, suối cung cấp cho đồng bào nhiều loại cá, họ nấu, kho, nướng, phơi khô, làm cá muối…. Họ sử dụng các loại rau, quả trồng được và nhiều loại rau rừng. Các món ăn từ rau của đồng bào Mnông thường được xào, nấu cùng cá. thịt… sử dụng nhiều hành, gừng, sả, nhất là ớt. Rau thơm làm gia vị có nhiều loại, loại đắng như công tur, tơr nei… loại chua có dang ere, tơr yơvà ngọt như jur bôp, thường sử dụng nấu chính với các loại cá, thịt.

Nước được đựng trong các quả bầu khô, có khi nấu với một loại cây rừng như sráđể uống, tránh được chứng đau bụng.

Đồng bào Mnông làm món rượu cần gọi là rơ nơm yăng, thường làm bằng gạo tẻ, rượu ngon thì phải làm bằng nếp, với phương pháp đơn giản: Gạo nấu thành cơm, rồi dàn mỏng ra cái nia, sau khi đã trộn đều với một lượng trấu ( lơk). Men rượu ( mpei) làm bằng một loại bột cây rngơmvà một vài vị củ rừng, phải giã nhỏ, giần thành bột rắc đều lên nia cơm. Sau đó mới thêm một lần trấu nữa rồi đổ vào vò sành, bên trên ủ kín bằng lá chuối khô. Ché rượu đem ra uống sau khi ủ được một tháng. Đồng bào Mnông, cũng như đồng bào Ê-đê, có cách uống rượu giống nhau. Khi uống phải lót mấy lớp lá chuối tươi lên trên, cầm cần trúc xuyên qua lớp lá chuối xuống đáy. Nước lã được rót thêm vào đầy ché, cứ thế uống cho đến khi rượu nhạt mới thôi. Rượu cần được sử dụng để cúng thần, tiếp khách từ xa tới hay khi có việc phải hội họp đông người.

Phần đông đàn ông, đàn bà đồng bào Mnông đều có thú hút thuốc lá. Loại thuốc thái nhỏ gọi là dju nôrthì hút bằng chiếc ea bâo(chiếc tẩu), loại thuốc cuốn cả lá gọi là hút dju rha, khi hút thì lấy lá chuối khô bọc bên ngoài. Chủ nhà cũng hay tặng khách tới chơi một nhúm thuốc lá để tỏ lòng mến khách…

Trong các món ăn, họ có một vài món bánh. Bánh nếp sắn ( băn bum prơm), được chế biến bằng cách giã gạo nếp và sắn tươi, nhào cho đều với nhau rồi gói lại bằng lá chuối, sau đó đem luộc chín. Bánh nếp chuối gọi là piêng liêt pritđược làm từ chuối chín bỏ vỏ, tẩm với bột gạo nếp, gói kín bằng lá chuối, sau đó đem nướng trên than củi hoặc luộc. Bánh chưng ( pênh tlăm), cũng làm bằng gạo nếp, gói bằng lá chuối, có nhân thịt heo hoặc thịt gà xào với trứng. Món bánh bắp ( piêng liêt rdu) làm bằng ngô non, thường là ngô nếp, giã nhỏ rồi gói bằng lá chuối, sau đó đem luộc. Có khi bánh làm chay, nhưng thường có nhân thịt với hành.

Đồng bào Mnông cũng khai thác mật ong, trồng cây trái trong vườn. Họ thường sử dụng mật ong dành cho trẻ em, người yếu, người già, ăn với xôi và sử dụng nguồn cây trái của rừng như ple kơn, ple si, ple luốt, ple muối, ple plôi…

Văn hoá ẩm thực của đồng bào Ê-đê và Mnông mang những nét chung của nhiều dân tộc trên mọi miền đất nước, nhưng cũng có những nét riêng biệt, làm phong phú thêm bản sắc văn hoá Việt Nam , nhất là mỗi dịp xuân về.

Nguồn: Dân tộc & Thời đại, số 62, 1/2004
Ché túc Bù nau (chè thiêng. Mẹ bồng con)

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.