Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tư vấn đầu tư trong tập đoàn Than Việt Nam
Mức tăng trưởng với tốc độ cao về sản lượng khai thác và tiêu thụ than trong những năm qua thể hiện sự cố gắng rất lớn của đội ngũ cán bộ KHKT làm công tác tư vấn thiết kế. Trong các đề án thiết kế từng bước đã đưa vào các giải pháp công nghệ tiên tiến, hiện đại đáp ứng nhu cầu của nền KTQD. Các sản phẩm than sau sàng tuyển đã đáp ứng được các yêu cầu quy định đối với các hộ tiêu thụ nội địa như nhiệt điện, xi măng, hoá chất, luyện kim và đặc biệt là yêu cầu đối với than xuất khẩu. Các nước bạn hàng tiêu thụ than truyền thống trong nhiều năm qua như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và các nước châu Âu… đã hoàn toàn chấp nhận các sản phẩm than antraxit chất lượng cao thương hiệu Việt Nam. Như vậy, trong nhiều năm qua, Ngành than đã đạt được những kết quả nhất định trong sản xuất và chế biến than. Trong những kết quả đó có sự đóng góp không nhỏ của các cán bộ, KS làm công tác tư vấn thiết kế trong lĩnh vực lựa chọn áp dụng công nghệ tiên tiến trong sàng tuyển và chế biến than.
Trước 1960, toàn Ngành than chỉ có 1 nhà máy tuyển do Pháp xây dựng (1926) tại Cửa Ông với công nghệ tuyển bằng máng rửa nghiêng, nước bùn sau tuyển rửa đổ trực tiếp xuống biển. Tại các mỏ than, việc sàng tuyển than được tiến hành chủ yếu bằng thủ công với các lưới sàng tự tạo. Công nhân nhặt đãi than thủ công ngoài trời bằng các công cụ lao động thô sơ. Giai đoạn 1965 - 1970 với sự giúp đỡ đầu tư của Liên Xô (cũ), các cán bộ, kỹ sư thiết kế của Bộ Điện và Than đã cùng với Viện Thiết kế Ghiprosakht thiết kế, lựa chọn công nghệ hợp lý để xây dựng nhà máy Tuyển than Vàng Danh với công nghệ tuyển bằng máy tuyển huyền phù manhetit. Đến nay Nhà máy vẫn hoạt động tốt và phát huy vai trò quan trọng trong sản xuất than.
Trong quá trình tồn tại của mình, Nhà máy luôn được nghiên cứu cải tiến công nghệ để nâng cao công suất và chất lượng sản phẩm. Từ công suất thiết kế ban đầu là 600.000 T/năm đến nay Nhà máy đã có năng lực thông qua 1,5 triệu T/năm. Đến 2006, Nhà máy có thể sàng tuyển 2,0 triệu tấn/năm theo thiết kế cải tạo của Công ty Tư vấn đầu tư Mỏ và Công nghiệp (Cty TVĐT Mỏ và CN), trong đó việc bổ sung công nghệ tuyển lại than cấp hạt 10 - 40 mm bằng xoáy lốc thuỷ lực môi trường nặng sẽ làm tăng tỷ lệ thu hồi than cục chất lượng cao và thay thế hàng trăm lao động nhặt thủ công.
Giai đoạn 1970 - 1975 đánh dấu sự hợp tác thiết kế giữa các cán bộ kỹ thuật Cty TVĐT Mỏ và CN (lúc đó là Viện Nghiên cứu Thiết kế Mỏ) và các kỹ sư Ba Lan trong thiết kế xây dựng Nhà máy Tuyển than Cửa Ông 2. Khác với Nhà máy Tuyển than Cửa Ông 1 (do Pháp xây dựng), Nhà máy Tuyển Cửa Ông 2 đã được nghiên cứu áp dụng công nghệ tuyển than nguyên khai của nhiều mỏ khu vực Cẩm Phả bằng máy lắng không phân cấp và tuyển lại than cấp hạt nhỏ bằng xoáy lốc thuỷ lực. Công nghệ thu hồi nước bùn được áp dụng lúc đó là bể cô đặc cào tròn và bể lắng tự nhiên nhiều ngăn với thiết bị bốc than bùn bằng cầu trục lắp gầu ngoạm khẩu độ 40 m. Với công nghệ này, hiệu suất tuyển được nâng cao, hạn chế đổ bùn than ra biển gây ô nhiễm môi trường. Đến nay Nhà máy vẫn đang hoạt động tốt, sản lượng than sàng tuyển hàng năm đạt 5,0 triệu tấn. Các sản phẩm than của Nhà máy đang góp phần chủ yếu trong tổng số than xuất khẩu hàng năm của ngành than.
Giai đoạn 1990 - 1995 là thời kỳ chuyển đổi mạnh mẽ về công tác quy hoạch thiết kế sàng tuyển than tại Thị xã Hòn Gai (nay là Thành phố Hạ Long) với việc tháo dỡ Nhà sàng Hòn Gai đã tồn tại nhiều năm từ thời Pháp thuộc ngay giữa lòng Thị xã để chọn vị trí xây dựng một nhà máy tuyển hiện đại với công nghệ tuyển tiên tiến, công suất 2,0 triệu T/năm tại Cọc 8 (Nam Cầu Trắng). Một lần nữa công tác tư vấn thiết kế lại thể hiện đầy đủ vị trí và trách nhiệm của mình trong lĩnh vực khảo sát, lựa chọn vị trí, lựa chọn công nghệ cho một nhà máy tuyển mới. Ngoài việc nghiên cứu thiết kế dây chuyền công nghệ bên trong Nhà máy, còn phải nghiên cứu thiết kế cộng cảng xuất than mới thay cho Cảng than Hòn Gai để trả lại cảnh quan du lịch cho Thành phố Hạ Long. Đề án thiết kế Nhà máy Tuyển than Nam Cầu Trắng và Cảng xuất than do Cty TVĐT Mỏ và CN lập đã được chính thức thi công ngay sau khi quyết định phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ.
Hoà nhập với tiến bộ kỹ thuật của thế giới, dây chuyền công nghệ sàng tuyển than Hòn Gai được nghiên cứu hợp tác với các kỹ sư thiết kế Australia . Công nghệ được lựa chọn là áp dựng máy lắng để tuyển than cấp hạt 6 - 100 mm, khác với công nghệ tuyển than tại các nhà máy đã xây dựng. Đây là giải pháp hợp lý đối với đặc tính than vùng Hòn Gai có tỷ lệ than cám -1 mm cao (đến 36%) và chất lượng xấu.
Đặc biệt trong khâu sàng khử nước than cám tuyển đã áp dụng loại máy sàng rung dốc với lưới cong làm tăng hiệu suất róc nước hơn hẳn các loại máy sàng thông thường. Khâu xử lý bùn nước đã được quan tâm đặc biệt bằng giải pháp áp dụng các xoáy lốc thuỷ lực, bể cô đặc và hồ lắng bùn, từng bước cải thiện điều kiện thu hồi than cám và nước tuần hoàn, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho Nhà máy. Trong công tác tư vấn và thiết kế với mục tiêu đưa vào áp dụng các công nghệ tuyển than tiên tiến một cách hiệu quả có sự đóng góp không nhỏ của các chuyên gia tại các cơ sở sản xuất khi xem xét, nghiệm thu các đề tài thiết kế công nghệ cải tạo hoặc xây dựng mưói các xưởng sàng và nhà máy tuyển. Như vậy, trong hành trình 40 năm tồn tại và phát triển, Cty TVĐT Mỏ và CN với nhiệm vụ chính là tư vấn đầu tư xây dựng các công trình khai thác và sàng tuyển than đã không ngừng vươn lên và có những đóng góp tích cực trong lĩnh vực đưa tiến bộ kỹ thuật vào áp dụng trong các dây chuyền công nghệ sàng tuyển.
Công tác tư vấn đầu tư thường phải đi trước một bước. Theo Đề án Quy hoạch phát triển Ngành than Việt Nam giai đoạn 2006 - 2015 và dự kiến đến 2025 do Cty TVĐT Mỏ và CN dự thảo trình Chính phủ, nhu cầu than của nền KTQD sẽ như sau: Năm 2010 là 42,0 triệu tấn; năm 2015 là 55,0 triệu tấn; năm 2020 là 71,0 triệu tấn và năm 2025 dự kiến sẽ tới 78,4 triệu tấn. Khối lượng than cần sàng tuyển từ đó cũng tăng lên kèm theo nhu cầu về thiết kế xây dựng các nhà máy tuyển than công suất lớn. Một loạt những vấn đề lớn đã xuất hiện đòi hỏi công tác tư vấn đầu tư phải có câu trả lời, đó là:
- Xây dựng thêm bao nhiêu nhà máy và xây dựng ở đâu?
- Lựa chọn công nghệ nào để đáp ứng yêu cầu về chất lượng và chủng loại sản phẩm than cho các hộ tiêu thụ?
- Vấn đề bảo vệ môi trường cần được giải quyết như thế nào?
Và còn rất nhiều vấn đề khác kèm theo cần giải quyết như nguồn nước, nguồn điện, phương án vận tải sản phẩm, phương án đổ thải đá, quy hoạch khu dân cư, nhà ở cho công nhân… đối với mỗi nhà máy tuyển. Trong đề án quy hoạch phát triển Ngành than Việt Nam giai đoạn 2006 - 2015 và dự kiến đến 2025, các chuyên gia tư vấn đầu tư của Cty TVĐT Mỏ và CN đã đưa ra những giải pháp hợp lý trên cơ sở nghiên cứu Quy hoạch phát triển các công trình công nghiệp của 2 ngành then chốt là ngành điện và ngành xi măng (2 ngành này hàng năm tiêu thụ trên 70% sản lượng than) theo từng vùng của tỉnh Quảng Ninh. Theo đó:
- Tại vùng Cẩm Phả sẽ xây dựng thêm ba nhà máy tuyển là Khe Chàm, Lép Mỹ và Mông Dương với công suất tương ứng là 12 triệu T/năm, 5 triệu T/năm và 2 triệu T/năm.
- Tại vùng Hòn Gai sẽ xây dựng thêm 1 nhà máy tuyển ở Hà Lầm với công suất là 3 - 5 triệu T/năm.
- Tại vùng Uông Bí sẽ xây dựng thêm 2 nhà máy tuyển là Nam Mẫu và Vàng Danh với 2 công suất tương ứng 3 - 5 triệu T/năm và 2 - 3,5 triệu T/năm.
Tổng công suất các nhà máy tuyển mới sẽ là 24,5 - 33,5 triệu T/năm, gấp hơn 3 lần tổng công suất các nhà máy hiện có và thời hạn đưa các nhà máy này vào hoạt động đều vào giai đoạn 2008 - 2010. Giải pháp này về cơ bản đã thuyết phục được Bộ Công nghiệp và TVN. Hiện nay đang từng bước tiến hành công tác chuẩn bị đầu tư.
Như vậy, trong 30 năm (1965 - 1995), do nhiều lý do khách quan và chủ quan, Ngành than chỉ xây dựng 3 nhà máy tuyển với tổng công suất xấp xỉ 8 triệu T/năm. Nay chỉ trong vòng 3 năm tới, sẽ có 6 nhà máy tuyển với tổng công suất trên 30 triệu T/năm. Như vậy, trong khoảng thời gian ngắn hơn 10 lần, Ngành than Việt Nam phải thực hiện một khối lượng công việc khổng lồ đang thách thức các cán bộ, kỹ sư làm công tác tư vấn thiết kế. Một lần nữa vấn đề nghiên cứu áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong lĩnh vực thiết kế công nghệ sàng tuyển than được đặt ra và cũng đang từng bước được tiến hành với sự quan tâm đặc biệt của lãnh đạo Cty TVĐT Mỏ và CN cũng như lãnh đạo TVN. Ngoài việc chủ động nghiên cứu các tài liệu, báo cáo KHKT trong lĩnh vực sàng tuyển than mới, nhiều cuộc hội thảo khoa học theo từng chuyên đề đã được tổ chức với sự có mặt của các công ty nước ngoài, TVN và Cty TVĐT Mỏ và CN còn tổ chức nhiều đoàn cán bộ đi tham quan, trao đổi và làm việc ở nước ngoài như Trung Quốc, Nga, Ba Lan, Nhật Bản…
Các nhà máy thiết kế mới đều nằm sâu trong khu vực đồi núi, gần mỏ với địa hình không bằng phẳng, xa khu dân cư sẽ đòi hỏi có sự nghiên cứu đầu tư công nghệ tiên tiến, tự động hoá cao và chiếm ít diện tích. Trong đề án thiết kế các nhà máy tuyển mới, ngoài việc lựa chọn công nghệ tuyển than hợp lý, tiên tiến đối với từng nhà máy, vấn đề được quan tâm nhiều là công nghệ xử lý bùn nước. Công nghệ sử lý bùn nước hiện nay với các hồ lắng và sân phơi than chiếm diện tích rất lớn. Các hồ lắng bùn của các nhà máy tuyển than dù đã có dung tích và diện tích lớn song chưa đáp ứng nhu cầu và đang phải xây dựng thêm. Ngoài ra, thiết bị thu hồi than bùn lắng là các cầu trục khẩu độ 40 m có năng suất thấp và chi phí điện năng cao. Đặc biệt trong mùa mưa, công nghệ này gặp rất nhiều khó khăn trong thu dọn và róc nước than bùn.
Tại các nước tiên tiến, vấn đề xử lý bùn nước của nhà máy tuyển đã được nhiên cứu thành công với việc sử dụng các loại máy lọc chân không, máy lọc ép kiểu băng, kiểu buồng hiện đại với diện tích lưới lọc của mỗi máy lên tới 500 m 2, cho phép lọc bùn than hạt mịn có nồng độ trung bình 350 g/l để thu hồi than bùn có độ ẩm 20% không cần phơi hay sấy thêm. Năng suất của mỗi thiết bị có thể đạt tới 7,5 T/h theo than, một máy lọc hoàn toàn có thể thay thế cho hệ thống hồ lắng bùn với diện tích đến 15.600 m 2như ở Nhà máy Tuyển Vàng Danh hiện nay trong khi chỉ cần bố trí trong một gian nhà diện tích đến 100 m 2.
Việc nâng cao chất lượng công tác tư vấn đầu tư là cả một quá trình bền bỉ, liên tục mà chỉ có tập thể đội ngũ những chuyên gia có nhiều tâm huyết với sự phát triển ngành công nghiệp khai thác và sàng tuyển than mới có thể đảm nhiệm được. Mỗi quyết định hay giải pháp thiết kế của một đề án luôn để lại phía sau những dấu ấn trí tuệ của người làm công tác tư vấn đầu tư, đặc biệt các công trình này thường tồn tại đến cả thế kỷ. Không ít những công trình đã trở thành những bài học kinh nghiệm để tạo cho các công trình sau những dáng vẻ hiện đại hơn, mang lại nhiều hiệu quả kinh tế cao hơn.








