Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 07/10/2010 19:18 (GMT+7)

Một vài tư liệu về Hà Nội cuối thế kỷ XIX

Guồng máy thành phố đang vận hành hết công suất để ngày kỷ ngày kỷ niệm Thủ đô ngànnăm có thêm nhiều cái mới, cái đẹp. Riêng ở góc độ xây dựng – quy hoạch, chưa bao giờ dư luận đặc biệt quan tâm đóng góp nhiều ý kiến cho bản quy hoạch Hà Nội mở rộng như thời gian qua.

Nhân đọc cuốn sách “Hà Nội giai đoạn 1873 – 1888” của một lưu trữ viên, nhà cổ tự học Sở Lưu trữ và Thư viện Đông Dương, ông André Masson,qua bản dịch của thày giáo Lưu Đình Tuân, một người bạn có nhiều trăn trở với Hà Nội hôm nay (Nhà xuất bản Hà Nội – 2009), xin nhặt ra một số sự kiện có liên quan đến sự hình thành và phát triển củamột vài khu trọng điểm của Hà Nội vào cuối thế kỷ XIX.

Cuốn sách chỉ phác thảo Hà Nội từ ngày 5 – 11 – 1873, ngày Francis Garnier sử dụng Trường Thi làm nơi trú quân tạm thời, tới ngày 3 – 11 – 1888, ngày đạo dụ chính thức biến toàn thể lãnh thổ Hà Nội trở thành đất Pháp.

Theo ông André Masson thì Hà Nội trước khi bị người Pháp chiếm đóng 1873 chưa phải là một thành phố mà chỉ là một điểm dân cư hỗn hợp, trong đó khu hành chính, khu buôn bán và nhiều làng mạc được đặt bên nhau trong một khu vực kín.

- Thành khi đó rộng hơn nhiều những gì còn sót lại hôm nay, là khu hành chính, là nơi ở của các quan đầu tỉnh và đại diện của nhà vua.

- Khu buôn bán được mô tả người đông đúc dày đặc bị kẹp giữa sông Hồng và Thành, chia thành khu phố Tàu, có nhiều cửa hàng lớn và khu phố người An – Nam của các thợ thủ công nhỏ.

- Phía Nam Thành và khu buôn bán có nhiều điểm được tường vây bảo vệ như đền thờ Khổng Tử (Văn Miếu), Trường Thi (Khoa thi cuối cùng vào năm 1879, trước khi phải di dời về Nam Định 1886), Trường Tiền, khu Đồn Thuỷ, khu nhượng địa tương lai của Pháp.

- Xa hơn nữa là các làng mạc nằm rải rác giữa các đầm và ruộng trên một vùng rộng lớn giới hạn bởi một dải đất cao có tên Đại La Thành.

Mỗi khu kể trên có đặc trưng riêng và theo sự phát triển riêng biệt. Nhưng hãy bắt đầu bằng một vài điểm chịu ảnh hưởng của Pháp. Đầu tiên đólà Trường Thi (có kích thước hoảng 150 x 200m giới hạn bởi: phía Bắc là phố Tràng Thi ngày nay, phía Tây là phố Dã Tượng, phía Đông là phố Quang Trung, và phía Nam là đoạn phố Lý Thường Kiệt từ số 2Fphố Quang Trung đến khu vực Toà án nhân dân tối cao ngày nay). Thành Hà nội (là khu vực bao quanh bởi đường Hùng Vương, Phan Đình Phùng, Phùng Hưng và Trần Phú ngày nay), khu nhượng địa (Dải đất từnhà Bác Cổ ven sông Hồng tới khu bệnh viện Việt Xô và 108 ngày nay), khu Hội truyền giáo (phố Phủ Doãn, Lý Quốc Sư ngày nay), khu phố Pháp và khu thương mại (khu phố Cổ ngày nay…).

Đối với các nhà nghiên cứu về Hà Nội, có thể từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau, họ đã đối chiếu, so sánh và hiểu cặn kẽ hơn về Hà Nội những ngày đầu rơi vào tay quân Pháp cả góc độ kinh tế, chính trị xã hội và các di sản đô thị hoặc tiền đô thị, để vẽ lên hoặc hình dung ra một Hà Nội trước và sau khi rơi vào tay người Pháp. Song với một chuyên gia lưu trữ của Sở lưu trữ và thư viện Đông Dương, ông André Masson, thông qua thư tịch ông quản lý, đã sắp xếp, thống kê lại các dự kiện về Hà Nội những ngày đầu quân Pháp chiếm đóng theo cách của ông để vẽ lên phần nào sự phát triển của Hà Nội từ năm 1873 – 1888 theo từng khu vực như kể trên. (sẽ viết cụt hể hơn kỳ sau).

Lịch sử hình thành và phát triển của mỗi khu, theo mô tả thì thường gắn với chiến lược quân sự của người Pháp trong tính toán chiếm đóng toànbộ Bắc bộ và toàn Đông Dương. Bởi chính tác giả cuốn sách cho rằng… Xét về mặt lịch sử, canh bạc chơi ở Hà Nội vào thời kỳ này (1873 – 1888) có vai trò quyết định không chỉ tới công cuộc thiết lậpnền bảo hộ của người Pháp ở Bắc kỳ mà còn tới vị thế và sự phát triển của người Pháp trong các khu vực khác ở Đông Dương. Không có sự táo bạo của Francis Farnier, không có sự kiên trì của những ngườikế nhiệm bám chặt vào “mẩu đất” do Hiệp ước 1874 nhượng cho Pháp thì có lẽ mảnh đất này đã là mảnh đất cho những người nước ngoài khác thèm khát. Một cường quốc khác không phải là Pháp sẽ đứng vữngbên bờ sông Hồng và tình thế của Pháp ở Nam Kỳ sẽ bị nguy hại.

Cuốn sách gợi mở cho chúng ta hôm nay về một bản quy hoạch Hà Nội thời bấy giờ xuất phát điểm từ “lý thuyết quy hoạch” nào? Con phố nào mở màn cho hệ thống giao thông bàn cờ của Hà Nội lúc bấy giờ và cho nhiều thập kỷ tiếp theo, và tại sao nó lại là toạ độ như vậy mà không phải là ở chỗ khác.

Đó hình như là sự ngẫu nhiên của sự tính toán thuần tuý về ý đồ quân sự. Khi Triều đình nhà Nguyễn kiên quyết chỉ dành một diện tích đất khoảng vài ha phía bờ sông Hồng cho Pháp (khu vực Đông và Nam Nhà hát lớn ngày nay) xây dựng Khu nhượng địa thì trong mắt của những chỉ huy quân sự Pháp thời đó đã vạch tuyến sao cho giữa khu nhượng địa đến Thành Hà Nội ngắn nhất có thể, giữa một vùng đầm lầy bao la như vậy. Henri Riviere đã vạch ra tuyến Tràng Tiền – Hàng Khay – Tràng Thi (ngày nay) hướng đến Đông Nam Thành Cổ (Cửa Nam ngày nay) và “chỉ thị” cho các đơn vị tiếp quản sau này xây dựng Khu phố Pháp song song hoặc vuông góc với tuyến đường đó. Tác giả André Masson đã khẳng định: “Khu phố kiểu Pháp (sau này) chỉ nảy sinh từ con đường đó mà không ở nơi nào khác, đơn giản vì con đường này trực tiếp nối khu nhượng địa với Thành Hà Nội (Đã trở thành nơi đồn trú của quân Pháp) và khu buôn bán. Nếu vị trí khu nhượng địa nằm quá về phía Bắc (Thành Hà Nội) như dự kiến ban đầu (là khu đất kẹp giữa phố Trần Quang Khải, Lý Thái Tổ, Hàm Tử Quan và Lê Phụng Hiểu ngày nay), trục của phố Pháp có lẽ đã khác và bản đồ Hà Nội sẽ hoàn toàn khác với bản đồ hiện nay”…

… Tại sao thành cổ Hà Nội chỉ còn lại Cột Cờ - Đoan Môn và Cổng thành Cửa Bắc mà không bị phá hết?

Theo người dịch thì lịch sử Hà Nội có một giai đoạn đặc biệt khác hẳn các giai đoạn khác. Đó là giai đoạn chuyển từ thành luỹ, phường thị phong kiến sang thành phố quy hoạch theo kiểu châu Âu kể từ 1873, năm quân Pháp chiếm Hà Nội, tới 1888 Hà Nội trở thành nhượng địa của Pháp.

Một số di sản ít ỏi còn sót lại đến hôm nay, không bị phá huỷ bởi “những nhát quốc của những kẻ phá hoại” và các nhà “đô thị hoá”, (lời củaông Pau Boudet Giám đốc Sở lưu trữ và thư viện Đông Dương), phải chăng do những ý kiến của những người Pháp có văn hoá đã từng đặt vấn đề ngay khi đó rằng: “Tại sao người ta không đặt các thành phốhiện đại bên cạnh các đô thị bản xứ, để chúng có một vẻ riêng như Thống chế Lyautey đã từng làm ở Maroc. Ở đó người ta tránh phá huỷ sự duyên dáng của các đường phố ngoắt ngoéo răng cưa với vỉa hèsần sùi vênh nhau và các ngôi nhà hẹp, gian nọ nối gian kia tối om và bí hiểm. Có thể là vệ sinh, thậm chí hơn cả mất vệ sinh, nhưng cần thiết” (?). Tại sao không bảo tồn các tháp và lăng chùa Khổhình (Chùa Bái Ân) in bóng xuống làm nước xanh lục của Hồ Gươm giữa công viên của một thành phố mới? Thói phá hoại văn hoá tác động tới mọi chỗ. Khi người ta nẩy ra ý tưởng kỳ cục và chướng mắt làđặt tượng nữ thần Cộng hoà bằng kẽm (une République de zinc) trên nóc Tháp Rùa giữa Hồ Hoàn Kiếm thì trí tuệ người ta đã đi tới chỗ sa sút. Người Pháp và người An – Nam hoan nghênh một số dự án trướcđó đã lôi cuốn Paul Doumer về Cửa Bắc và các di tích của khu Hoàng cung sẽ được giải toả khỏi các ngôi nhà ký sinh làm méo mó hai công trình này. Chúng sẽ được bao bởi một công viên xanh mát trải dàitừ đường Victor Hugo (nay là Hoàng Diệu) tới phố Porte Sud và từ Cửa Bắc tới Cột cờ trên đường Puginier (nay là Điện Biên Phủ). Tuy nhiên, đó chỉ là một phần quan trọng của một chương trình tổng quáthơn mà Thị trưởng Hà nội trước đây, nay là Toàn quyền Đông Dương, ông Pierre Pasquier đã vạch ra từ năm 1916 rằng: Không biết có cách nào có thể triển khai sự quan tâm của chúng ta ra một số phố củakhu bản xứ. Chẳng hạn khi cung ứng các điều kiện vệ sinh cần thiết sẽ bảo tồn được tính cách độc đáo của các phố đó. Du khách sẽ rất lý thú được so sánh Hà Nội hôm qua và Hà Nội hôm nay…

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.