Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 17/11/2010 18:34 (GMT+7)

Một số luận chứng về sử dụng tài nguyên đất với định cư đô thị và nông thôn ở Việt Nam

Đánh giá hiện trạng sử dụng đất với định cư

Định cư nông thôn: Năm 2000, nước ta có 4,2680 triệu ha đất lúa, trong 5 năm (từ 2001 - 2005) giảm 318,4 nghìn ha. Nhìn bề ngoài đất lúa giảm không nhiều, nhưng nếu so với số dân tăng bình quân hàng năm 1,3 triệu người và chất lượng của 84,3 nghìn ha các loại đất khác (do khai hoang, vốn không dùng trồng lúa) chuyển sang để bù vào đất lúa nước thì chưa thể nói có thể đảm bảo an ninh lương thực trong những thập kỷ tới.

Việt Nam là quốc gia hiếm đất, nơi đông địa hình "tam sơn, tứ hải, nhất phân điền" nên đất trồng lúa nước càng hiếm. Và để hình thành được hơn 4 triệu ha đất lúa, người nông dân Việt Nam đã trải hàng trăm, hàng nghìn năm lao động cải tạo làm giàu chất lượng đất và xây dựng hệ thống thuỷ lợi.

Quá trình chuyển đất lúa dùng cho các mục đích khác là một đi không trở lại. Hơn thế, tổng số 70 triệu thửa đất nông nghiệp nói lên sự manh mún của nền kinh tế tiểu nông. Sự chia cắt đó còn trầm trọng hơn do các khu công nghiệp, chế xuất, sân golf. . . hình thành loang lổ trên các cánh đồng. Chưa có đánh giá cụ thể, nhưng phá vỡ hệ thống thủy lợi ở những quy mô khác nhau, và gây ô nhiễm tại các vùng trồng lúa.

Việc thu hồi 318,4 nghìn ha đất lúa nước cho các mục đích sử dụng khác (xây dựng đô thị, hạ tầng, khu công nghiệp, thuỷ điện...) đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến cư trú nông thôn. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, từ 2001 - 2005 có 630 nghìn hộ bị thu hồi đất, trong đó có 950 nghìn lao động nông nghiệp phải chuyển đổi sang nghề khác. Cũng vì thế, có tới 2,5 triệu người bị ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống do bị thu hồi đất. Phần lớn nông dân mất đất sản xuất vẫn cư trú trong các làng mạc cổ, trên những địa hình được thử thách qua hàng trăm, hàng nghìn năm. Các mô hình quần cư căn bằng sinh thái ấy đang bị phá vỡ do dân số tăng nhanh, hạ tầng kỹ thuật không theo kịp, xây dựng tự phát, do các nghề gây độc hại môi trường vào nơi cư trú... Diện tích bình quân đất ở nông thôn 2005 chỉ 59,1 m 2/người là quá thấp.

Chính quyền đang đứng trước tình trạng nông dân một mặt khiếu kiện liên miên về đất (Hải Dương, Hưng Yên là ví dụ), mặt khác do làm nông không có lãi, không thể sống bằng đồng ruộng, đã chối bỏ cả quyền sử dụng đất (Thái Bình là ví dụ điển hình). Dấu hiệu này rất xấu, đi ngược lại truyền thống gắn bó máu thịt với đất của nông dân Việt Nam . Những áp lực này đã khiển họ rời bỏ ruộng đồng, làng mạc di cư tự phát ào ào tới các đô thị làm thuê, đi xuất khẩu lao động, làm phu khai khoáng...(Từ 2001-2005, số lượng dân dịch chuyển từ tỉnh này qua tỉnh khác đã là 2,3 triệu người). Cùng với những lợi ích, cuộc chuyển cư này gây rất nhiều tổn thất cho nông dân Việt Nam . Cấu trúc truyền thống các gia đình nông dân Việt Nam mất dần sự cố tích cực và bị tổn thương.

Định cư đô thị: Sau 20 năm đổi mới, nước ta đã có gần 200 đô thị mới ra đời. Tổng số đô thị cả nước từ 600 nay đã lên hơn 800. Quy hoạch sử dụng đất ở đô thị đến 2010 đã được Quốc Hội thông qua năm 2006 là 110.700ha. Tuy nhiên, đến 2005 đất ở đô thị (không tính đất giao thông và các loại đất khác của đô thị) đã sử dụng gần 103.000 ha. Chỉ còn khoảng 7.800 ha và cũng đã giao cho các chủ dự án phát triển đô thị thực hiện. Tức là tính đến 2007, về cơ bản kế hoạch sử dụng đất ở đô thị đã hoàn thành sớm 3 năm. Lưu ý trước đó (giai đoạn 2001-2005), đất ở lại các độ thị đã tăng thêm 30.721 ha, bình quân đất ở đô thị 12m 2/người.

Nhưng kế hoạch 110.700 ha đất ở đến 2010 còn có nguy cơ phá sản nặng nề ở chỗ, dân số đô thị đang tăng cao và khó kiềm chế nổi. Số liệu trong nước ước tính dân số đô thị Việt Nam hiện là 27 triệu (từ 1990 - 2005 tăng thêm 9,7 triệu). Số liệu của viện Konrad Adenbur tại Việt Nam cho thấy dân số đô thị Việt Nam hiện là 33,2 triệu và đến năm 2020 sẽ 70,84 triệu, chứ không phải đến 2020 dân số đô thị Việt Nam là 46 triệu (theo Bộ xây dựng). Nếu tính toán của Konrad Adennaur sát thực tế hơn, thì cuộc khủng hoảng đô thị ở Việt Nam khó tránh khỏi. Vì từ đó loạt câu hỏi cần đặt ra: Gần 70,84 triệu dân các thành thị sẽ làm việc, cư trú ở đâu? Mô hình nào cho định cư bền vững các đô thị Việt Nam ? Lấy đâu ra nguồn tài chính xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật xã hội như giao thông, điện, nước, chiếu sáng, trường học, bệnh viện? Bằng cách nào để dòng di dân không biến TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội thành các thành phố khổng lồ ngột ngạt vì ô nhiễm và thiếu các điều kiện an sinh xã hội?

Nhìn tổng thể chất lượng định cư đô thị của Việt Nam, ít nhất mắc 4 nhược điểm lớn là chất lượng con người (văn hóa, trình độ lao động), chất lượng xây dựng (vật chất) của thành phố đều yếu kém, và căn bệnh liên tục bành chướng đô thị "bẩn" ra vành đai xanh ngoại vi, mất tính bền vững.

Định cư miền núi: 3/4 diện tích lãnh thổ Việt Nam là đồi, núi với 1.168.589 ha đất nương rẫy. Trên đất sườn đồi, sườn núi chỉ làm được một vụ (do thiếu nước) cả năm chỉ thu khoảng 1,2 tấn/ha. Con số khái quát cho thấy điều kiện canh tác nói chung của nông dân ở những vùng địa lý này rất khắc nghiệt. Lại thêm rừng đầu nguồn bị tàn phá làm lớp đất mầu ít ỏi trên địa hình dốc càng cằn cỗi. Đánh giá của Bộ Tài nguyên và Môi trường là "chưa có đầu tư để sử dụng đạt hiệu quả cao, việc sử dụng đất chưa trở thành động lực để xoá đói, giảm nghèo và tiến tới phát triển bền vững kinh tế - xã hội miền núi, vùng sâu vùng xa".

Một nội dung rất quan trọng cần đề cập, đó là việc xây dựng những công trình thủy điện lớn và tác động của nó với định cư con người. Thống kê chưa đầy đủ cho thấy khoảng 550.000 người đã, đang chịu ảnh hưởng trực tiếp do phải đi chuyển để nhường đất xây dựng các công trình thủy điện, mà hầu như họ rất khó phục hồi thu nhập và ổn định đời sống. Đồng bào các dân tộc ở những vùng này không chỉ bị mất đất sản xuất mà còn bị đe doạ vì tài nguyên rừng không còn. Phải di chuyển cả cộng đồng, cũng có nghĩa kết cấu xã hội, truyền thống văn hoá bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tỷ lệ nghèo chung tính đến 2004 ở Tây Bắc là 58,6%, Tây Nguyên là 33,1%. Hơn nữa,các hồ chứa nước của các công trình thủy điện làm ngập chủ yếu các thung lũng, là những diện tích ruộng lúa nước vốn rất ít ỏi, quý hiếm ở vùng núi. Chúng ta thường nêu các con số về quy mô công trình thủy điện như một cách khẳng định sự tăng trưởng năng lượng, nhưng lại có rất ít các thông tin đã làm ngập bao nhiêu héc ta ruộng lúa. Tỷ lệ mất bao nhiều đất canh tác cho mỗi MW là được chấp nhận về pháp lý? Ví dụ, Thác Bà công suất 108 MW nhưng làm ngập một điện tích đất canh tấc lớn hơn Đa Nhim (160MW) khá nhiều.

Không thể nêu hết những yếu tố gây nên sự bất ổn định cư trú của những vùng trung du và miền núi mênh mông. Nhưng các cuộc vượt những dãy núi hiểm trở tìm đất sống của đồng bào các dân tộc thiểu số là một biểu hiện rõ nhất. Công cuộc phát triển kinh tế không thể tách rời an ninh quốc phòng. Chỉ có thể giữ vững bảo vệ vùng lãnh thổ này với sự phát triển ổn định, định cư dài lâu của nhân dân các dân tộc vùng núi biên giới.

Kiến nghị sử dụng đất với định cư con người ở Việt Nam

Định cư là một quá trình sống của con người đã thích ứng với các điều kiện địa lý khí hậu. Quá trình này trải hàng trăm, nghìn năm. Những phân tích được chia theo không gian địa lý, cho thấy công cuộc phát triển kinh tế đất nước đã chứa, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây mất ổn định tới các điều kiện sống của con người Việt Nam .

Chúng tôi nhận thấy các kế hoạch, quy hoạch sử dụng đất đai và các quy hoạch liên quan của nhiều bộ, ngành hiện nay (giao thông, xây dựng, nông nghiệp và phát triển nông thôn, du lịch. . .) phục vụ cho các mục tiêu tăng trưởng của từng bộ, ngành thiếu mục tiêu chung là phải ổn định và phát triển chất lượng sống (chất lượng định cư với đất đai) của con người của từng địa phương cụ thể nằm trong các kế hoạch, quy hoạch đó.

Cần xây dựng một chiến lược tổng định cư tổng thể toàn lãnh thổ, đưa nội dung vì con người ở từng vùng địa lý cụ thể, lấy đó làm cơ sở hoạch định, chất lượng các kế hoạch, quy hoạch sử dụng đất của từng Bộ, ngành.

Về sử dụng đất nông nghiệp:

Quá trình chuyển đất nông nghiệp (đặc biệt là đất lúa nước) sang các mục đích khác (xây dựng, giao thông, công nghiệp. . .) là một đi không trở lại. Cho nên cần hạn chế tối đa quá trình chuyển đổi đó để đảm bảo an ninh lương thực cho không chỉ vài thập kỷ tới mà các thế hệ người Việt trong những thiên niên kỷ sau. Không lấy đất lúa nước cho xây dựng đô thị, khu công nghiệp, thuỷ điện... Không xây dựng sân golf trên nông nghiệp (Hưng Yên, Bắc Ninh chưa triển khai nên thu hồi giấy phép).

Về các vùng nông nghiệp nông thôn: Nghiên cứu kinh nghiệm Trung Quốc, trong tiến trình công nghiệp hoá đã xuất phát từ quyền lợi của số đông dân cư nông thôn để liên kết chặt chẽ với điều kiện tiến hành của địa phương nhằm hiện đại hoá nông thôn và nông nghiệp. Trung quốc đã thành công công nghiệp hoá nông thôn với khẩu hiệu "Ly nông nông nghiệp" chứ không đô thị hoá nông thôn như chúng ta vẫn hiểu và đang áp dụng ở Việt Nam .

Về thực chất các mô hình cư trú truyền thống ở nông thôn liên kết chặt chẽ với khung cảnh sống dựa trên cơ bản là nông dân làm lụng trên những cánh đồng, trang trại, rừng... Xu hướng chuyển đổi sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ thời kỳ hiện đại hoá đã tách một phần lớn mô hình này ra khỏi chức năng kinh tế nông nghiệp để tạo ra một tầng lớp dân cư nông thôn phi nông nghiệp.

Tránh hiện tượng đô thị hoá nông thôn để tạo ra các đô thị nhỏ mật độ cao, lộn xộn, hình thành xung quanh các vùng đô thị trung tâm có thể thành công ở Mỹ do điều điều kiện đầu tư cao và công nghiệp hoá nông nghiệp toàn diện, ở Việt Nam sẽ gây bất ổn cho các vùng định cư nông thôn.

Nghiên cứu mô hình doanh nghiệp gia đình hay xí nghiệp nông nghiệp ở nông thôn nhằm phát triển công nghiệp hoá từng bước ở đây, giảm bớt đáng kể con số lực lượng sản suất nông nghiệp, nhưng vẫn xây dựng được nền nông nghiệp thương phẩm, đồng thời nghiên cứu các mô hình định cư nông thôn mới mang thuộc tính nông nghiệp cho dân cư nông thôn.

Định cư đô thị: Cần nhận thức lại vấn đề đô thị hoá ở Việt Nam và các đặc thù của nó để đưa vào các chương trình nghiên cứu hoạch định chính sách, chiến lược định cư quốc gia và địa phương (Đô thị, nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo...)

Xoá các quy hoạch "treo" và việc cấp các dự án không đủ năng lực thực hiện phát triển đô thị, các dự án không tuân thủ quy hoạch rời rạc xé lẻ cơ thể thành phố và làm bộ mặt đô thị lộn xộn.

Xây dựng cơ chế kiểm soát phát triển đô thị, tài chính đô thị...bằng cách nghiên cứu đô thị hoá nhằm đưa ra các quy chế chung cho đô thị. Xây dựng khung pháp lý cho xây dựng và phát triển đô thị bằng bộ luật quy hoạch, gồm hệ thống các quy phạm quy hoạch trước khi làm các quy hoạch liên quan đến xây dựng mới, bảo tồn cải tạo . . . là nền tảng gốc của quy hoạch để thực hiện nền kinh tế, xã hội và các mô hình đô thị thích ứng điều kiện Việt Nam.

Điều kiện tiên quyết phải làm công tác hoạch định chính sách định cư quốc gia và chiến lược định cư địa phương trong thời kỳ công nghiệp hoá (chuyển 70% lực lượng lao động chủ yếu là nông nghiệp tính đến 2005 sang 70% là lực lượng sản xuất công nghiệp và dịch vụ vào 2030).

Xoá sự chồng chéo và không thống nhất giữa 3 quy hoạch theo Chỉ thị 09 của Thủ tướng chính phủ ký ngày 7/5/07 về tăng cường quản lý sử dụng đất của các quy hoạch và dự án đầu tư: quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội (Bộ Kế hoạch và Đầu lư), Quy hoạch sử dụng đất (Bộ Tài nguyên và Môi trường), Quy hoạch xây dựng (Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông vận tải, Tổng cục Du lịch, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn...)

Cụ thể là: Nghiên cứu hoạch định chính sách định cư quốc gia trên nền kinh tế, xã hội, văn hoá, từ đó xây dựng chiến lược định cư cho mỗi địa phương, vùng miền để đưa ra các chỉ tiêu sử dụng đất cho các kế hoạch dài hạn và ngắn hạn. Đây cũng là bài toán của mỗi địa phương, mỗi ngành cho quy hoạch sử dụng đất.

Thống nhất các khái niệm, thuật ngữ sử dụng trong quy hoạch sử dụng đất của tất cả các ngành và địa phương trong toàn quốc.

Thống nhất quy hoạch sử dụng đất toàn quốc bằng hai công cụ pháp lý: Quyền sở hữu đất đai và Bản đồ đo đạc đất đai theo địa hình có thông tin về vật thể trên đất (không theo bản đồ "giải thửa" hiện nay nữa).

Lấy quy hoạch sử dụng đất là nền gốc để lập các quy hoạch chuyên ngành khác. Tất cả các quy hoạch chuyên ngành phải được so sánh và thẩm định theo quy hoạch sử dụng đất toàn quốc và địa phương.

Nghiên cứu các mô hình đô thị xanh, đô thị sinh thái, đô thị kinh tế bền vững ở Việt Nam để đưa vào thực tế đô thị hoá.

Định cư miền núi: Việc làm đầu tiên cần quan tâm là xoá đói giảm nghèo miền núi gắn với định cư miền núi với các mô hình định cư: Định cư sinh thái rừng, định cư sinh thái trang trại, định cư sinh thái công nghiệp, định cư du lịch làng nghề . . .

Định cư miền núi phải gắn với an ninh quốc phòng, coi từng người dân, từng gia đình, làng bản là một người lính biên phòng. Từ đó có chính sách giao đất, giao rừng, lãnh thổ biên giới cho các khu dân cư miền núi và định cư đồng bào tại các vùng sâu, vùng xa với các chính sách hỗ trợ đặc biệt để đồng bào có thể an cư.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

5 nhà khoa học của Liên hiệp Hội Việt Nam được tôn vinh “Nhà khoa học của Nhà nông” năm 2026
Sáng 2/10/2026, tại Hà Nội, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tổ chức Chương trình tôn vinh “Nhà khoa học của Nhà nông” lần thứ VII và trao giải Cuộc thi “Sáng tạo kỹ thuật Nhà nông” toàn quốc lần thứ XI năm 2026. Trong số 42 cá nhân được tôn vinh năm nay có 5 nhà khoa học do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam giới thiệu.
Thanh Hoá: Kinh tế tuần hoàn, tín chỉ Carbon và mô hình sản xuất không phát thải
Ngày 30/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội) phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Hồng Đức và Viện Nông nghiệp Thanh Hóa tổ chức Diễn đàn khoa học với chủ đề “Kinh tế tuần hoàn và tín chỉ Carbon - Phương pháp xây dựng mô hình sản xuất không phát thải tại Thanh Hóa”.
Đắk Lắk: Phát huy nguồn lực trí thức, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tỉnh
Trong giai đoạn 2026-2030, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) là yêu cầu quan trọng để Đắk Lắk khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế và các nguồn lực cho phát triển. Cùng với KHCN và CĐS, ĐMST cần được nhìn nhận không chỉ là hoạt động của các viện, trường hay doanh nghiệp công nghệ, mà là một phương thức tổ chức nguồn lực để giải quyết những bài toán phát triển cụ thể của địa phương.
Phú Thọ: Tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại xã Lạc Sơn
Ngày 25/9/2026, tại xã Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng (MACDI) cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức chương trình tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
Đại hội Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lần thứ VIII: GS.TS Nguyễn Văn Kim được bầu làm Chủ tịch
Ngày 30/9/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Hội; GS.TS Nguyễn Văn Kim được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.
Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.