Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 14/01/2008 15:12 (GMT+7)

Một số kết quả nghiên cứu tạo giống gia súc, gia cầm của Viện Chăn nuôi sau khi nước ta gia nhập WTO

1. Về con lợn

Từ nguồn gen quý của các giống lợn Hoa Kỳ nhập nội (Landrace; Yorkshire; Duroc), qua nhiều thí nghiệm lai chéo dòng, đã xác định được công thức lai tối ưu tạo con lai thương phẩm 3 máu ngoại là .

Từ nguồn gen và công nghệ tạo dòng của Công ty Giống lợn PIC Anh quốc (L19, L95, L06, L11 và L64), sau 6 năm quản lý và khai thác quy mô đàn tăng gần 3 lần, chất lượng đàn lợn không ngừng được nâng cao, hầu hết các chỉ tiêu không thua kém so lúc mới tiếp nhận. Năng suất sinh sản của đàn hạt nhân GGP luôn ổn định: Số con sơ sinh sống: 9,1 con; khối lượng cai sữa/ ổ: 14,2 kg; khối lượng 60 ngày tuổi đạt 20,66 kg/con; số lứa đẻ/ năm: 2,21 lứa. Chi phí thức ăn giảm 3% (giảm từ 3 kg xuống còn 2,8 kg)/

Trung bình mỗi năm Trung tâm Nghiên cứu lợn Thuỵ Phương thuộc Viện đã cung cấp cho sản xuất khoảng 4.500 lợn giống ngoại ông bà và bố mẹ. các giống lợn cao sản đang phát huy tốt tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long và các khu vực sinh thái khác nhau trên cả nước.

2. Về bò sữa

Đã xây dựng quy trình công nghệ nuôi bò lai hướng sữa với các tỷ lệ (1/2, 3/4, 5/8) máu Holstein friensian (HF), con lai cho năng suất sữa 3200 lít/ chu kỳ (1999) lên 3700 lít/ chu kỳ (2004). Đã tiếp tục khẳng định được loại hình bò sữa thích hợp với điều kiện tự nhiên: khí hậu nóng ẩm nhiệt đới và có hieuẹ quả là bò lai: giữa bò Holstien Friensian cao sản với bò lai cản tiến (Zebu) có tỷ lệ máu là 75% máu HF là thích hợp. Việc tăng 500 lít sữa/ chu kỳ đã làm lợi 1,2 triệu đồng/ bò sữa. Chuyển giao quy trình nuôi bò sữa HF thuần (nhập từ Mỹ và Australia) cao sản tại Việt Nam (khí hậu nóng ẩm). Thế hệ đời con đã thích nghi tốt và cho năng suất cao hơn nhiều bò sữa lai HF tại Việt Nam . Năng suất chu kỳ đạt > 4.500 kg. Phổ biến quy trình trồng cỏ hỗn hợp với hệ thống tưới chủ động, đảm bảo năng suất > 400 tấn/ha/năm, đủ để nuôi 30 bò sữa/ ha cỏ trồng.

3. Về bò thịt

Trong giai đoạn 2006 - 2007, các nghiên cứu về bò thịt cũng đã đạt được những thành tựu đáng kể. Phát triển được đàn bò lai thịt tại 3 miền Bắc, Trung, Nam với các giống Charolais, Hereford, Limousine, Red Brahman với bò Sind... Xác định được quy trình nuôi lai lấy thịt, lúc 22 tháng tuổi đạt khối lượng 250 - 300 kg. Xây dựng quy trình vỗ béo bò thịt và bò loại thải nuôi thịt bằng phụ phế phẩm nông nghiệp sẵn có của địa phương. Bò vỗ béo tăng trọng 800 g/con/ngày, khối lượng thịt tinh từ 60 - 65 kg/bò sau khi vỗ béo tăng lên 100 - 110 kg/ bò đạt lợi nhuận 160.000 - 350.000 đ/bò. Địa bàn áp dụng tại các tỉnh miền núi phía Bắc, Đồng Bằng sông Cửu Long, miền Trung và Tây Nguyên.

4. Về gia cầm

a) Chăn nuôi gà:

- Đã thành công trong chọn lọc nâng cao năng suất các dòng gà hướng trứng, hướng thịt:

+ Gà Ri vàng rơm: tuổi thành thục 134 ngày tuổi. Sản lượng trứng lúc 68 tuần đạt 131 quả (so 126 quả lúc trước chọn lọc), khối lượng trứng không đổi (40 gr), tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng là 2,61 kg.

+ Gà Ai Cập: sản lượng trứng lúc 68 tuần đạt 195 quả (so 180 quả lúc trước chọn lọc).

- Chọn tạo thành công 4 dòng gà mới (được Hội đồng KHCN công nhận và cho phép chuyển giao phục vụ sản xuất) đó là:

+ Dòng LV1: sản lượng trứng 68 tuần tuổi đạt 152 quả; Khối lượng trứng 56,6 g.

+ Dòng LV2: sản lượng trứng 68 tuần tuổi đạt 165 quả; Khối lượng trứng 56,6 g.

+ Dòng LV3: sản lượng trứng 68 tuần tuổi đạt 172 quả; Khối lượng trứng 55 g.

+ Dòng HB5: sản lượng trứng 68 tuần tuổi đạt 170,6 quả; Khối lượng trứng 54,5 g.

+ Năm 2006, xây dựng được đàn hạt nhân tiến hành ghép phối tạo thế hệ 1 của 8 dòng gà TP4, TP1, TP 2, LV4, LV5, VP2, RA, HA2.

- Đã xác định được hai công thức lai hướng thịt đạt hiệu quả cao và được hội đồng KHCN đánh giá đạt tiến bộ kỹ thuật:

+ Tổ hợp lai giữa 3/4 LV với ¼ máu Sasso X44 (70 ngày tuổi đạt 2,3 kg; tỷ lệ nuôi sống 96%; Chi phí thức ăn 2,66 kg thịt hơi).

+ Tổ hợp lai gà LV với Sasso X44 (63 ngày tuổi đạt 2,4 kg; tỷ lệ nuôi sống 96%; Chi phí thức ăn 2,5/ kg thịt hơi).

+ Các dòng gà lai như: gà X44 - ISA; gà K - ISA; gà lai X LP 44 có năng suất trứng đạt 173,8 - 174,7 quả/ mái. Tiêu tốn thức ăn/ 10 trứng ở mức 2,83 - 3,00 kg.

- Mỗi năm các Trung tâm thuộc Viện sản xuất và cung cấp từ 900.000 - 1.500.000 gà bố mẹ cho hầu hết các tỉnh trong cả nước. Mỗi năm tăng hiệu quả kinh tế do sử dụng giống mới khoảng 18 tỷ VND.

b) Chăn nuôi vịt, ngan:

Những nghiên cứu về công nghệ tạo dòng đã đóng góp rất lớn vào việc cải tiến năng suất và chất lượng sản phẩm.

- Đối với vịt: qua 4 thế hệ chọn lọc đã tạo được 2 dòng vịt siêu thịt mới có năng suất cao là T5 (dòng trống) và T6 (dòng mái). Năng suất trứng đến 68 tuần tuổi là 223 - 232 quả/mái. Con lai T5 và T6 có khối lượng 7 tuần tuổi là 3154,2g và chi phí thức ăn là 2,35 kg/1 kg tăng trọng. Vịt CV Super - M và vịt CV 2000 được nuôi theo phương thức nuôi khô có sản lượng trứng bình quân 196,4 quả/ mái/ 40 tuần đẻ. Các giống vịt siêu thịt và siêu trứng được nuôi nhiều ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng (khoảng 18 triệu con/ năm).

- Ngan ông bà R51; R71 có tỷ lệ nuôi sống cao. Năng suất trứng/ mái/ 2 chu kỳ đẻ từ: 188,16 đến 194,3 quả. Tương ứng tiêu tốn thức ăn/ 10 trứng: 4,72 và 4,96 kg. Ngan thương phẩm đến 84 ngày tuổi ngan trống đạt 4106,7 - 4278,3 g và ngan mái: 2461,7 - 2556,7 g. Tiêu tốn thức ăn/ kg tăng trọng: từ 3,08 - 3,12 kg. Đã chuyển giao vào sản xuất 9.400 ngan bố mẹ, 28.800 ngan thương phẩm và 362.500 con ngai lai ra sản xuất đạt kết quả tốt và cho hiệu quả kinh tế cao.

5. Về con dê

Về con dê: Đã thích nghi được 2 giống dê cao sản Ấn Độ (Jumnapari; Barbari), 3 giống dê Mỹ (Saanen, Alpine và Boer). Dê lai (Ngoại x nội) nuôi thịt 6 tháng tuổi đạt 17 - 18 kg, cho 0,6 - 0,9 lít sữa/ con/ ngày. Các giống dê ngoại có sản lượng sữa tăng từ 28,6 - 40,3% so với dê nội, tăng trọng từ 22,7 - 28,9% so với dê lai và dê nội.

Đã lai tạo con lai F1 Boer Bách thảo Cỏ và F1 Saanen Bách thảo chọn làm nền để phối với dê đực Boer và Saanen tạo dê hướng chuyên thịt và chuyên sữa. Đã sản xuất được 650 liều tinh cọng rạ của giống dê Boer và 550 liều tinh cọng rạ của giống dê Saanen. Tỷ lệ sau giải đông đạt 0,38. Đã nghiên cứu thành công một số cây cỏ thích hợp để chăn nuôi dê có hiệu quả kinh tế. hàng năm chuyển giao khoảng 1300 - 1500 dê giống các loại có chất lượng cao cho sản xuất.

Về con cừu : Đã chọn lọc, nhân thuần các giống cừu lông tơi và cừu lông bện, khảo nghiệm công thức lai giống giữa cừu đực Úc với cừu cái Phan Rang: đã phối giống cừu cái Phan Rang với cừu đực Dopper và cừu đực Suffolk, tạo cừu lai F1 có khả năng sinh trưởng tốt, năng suất cao.

6. Lĩnh vực bảo tồn nguồn gen vật nuôi

Đã kết hợp phương pháp nuôi giữa động vật tại bản xứ và áp dụng phương pháp di truyền phân tử để đánh giá bản chất của 51 giống vật nuôi quý của Việt Nam . Bảo tồn được một số giống có nguy cơ mất như lợn Ỉ, gà Hồ... Đã chọn lọc phát triển một số giống như cừu Phan Rang, dê Bách Thảo, vịt Bầu Quỳ, gà H’mông; đã bảo tồn được 2181 mẫu AND của 39 giống. Đây là nguồn gen quý được lưu giữ tại Viện Chăn nuôi.

Đã chuyển 75 lợn heo rừng thuần Thái Lan ra Bắc và đang nuôi thích nghi tại 3 điểm. Kết quả ban đầu cho thấy là tốt, mặc dù đang giai đoạn nắng.

Sắp hoàn thành dự án hợp tác quốc tế về nghiên cứu đa dạng sinh học vật nuôi tại Hà Giang và đa dạng bò rừng tại dải Trường Sơn.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.