Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò quản lý của nhà nước đối với biển đảo nước ta hiện nay
Có vùng biển, đảo nằm trên địa giới hành chính thuộc 28 tỉnh, 125 huyện ven biển, trong đó có 12 huyện đảo. Chỉ tính riêng các hải đảo, quần đảo thì ở nước ta có hơn 1.656 km2, trong đó có 66 đảo thường xuyên có dân cư làm ăn sinh sống, với hơn 155.000 người.
Biển và đảo có vai trò quan trọng về nhiều mặt: kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, du lịch… Vì vậy, lịch sử phát triển của đất nước ta luôn gắn chặt với việc bảo vệ các vùng biển và hải đảo thuộc chủ quyền của đất nước. Vào thời nhà Nguyễn, nhận thức được vị thế của biển và mối lo ngại về việc có thể bị tấn công từ mọi phía trên biển nên các vua Nguyễn ngoài việc bố phòng cẩn mật tại bờ biển thì việc thực thi chủ quyền trên biển cũng thường xuyên được tiến hành bằng nhiều hoạt động cụ thể như tuần tra, kiểm soát vùng biển. Trong lời dụ của vua Gia Long có ghi: “Côn Lôn, Phú Quốc, Thị Nại, Cù Mông trẫm cùng với các tướng sĩ các ngươi đã trăm trận đánh vất vả và mới có ngày nay. Lúc yên đừng quên lúc nguy. Đó là đạo giữ nước yên dân” (1).
Hiện nay, trong sự nghiệp đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhận thức rõ tầm quan trọng của biển, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X của Đảng đã chỉ rõ: “Phát triển mạnh kinh tế biển vừa toàn diện, vừa có trọng tâm, trọng điểm với những ngành có lợi thế so sánh để đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hợp tác… Nhanh chóng phát triển kinh tế - xã hội ở các hải đảo gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh” (2). Tài nguyên biển nước ta với trữ lượng dồi dào, phong phú, gồm dầu mỏ, khí đốt, các loại khoáng sản, thủy sản, các bãi ven biển, rừng ngập mặn, ruộng muối, các bãi tắm, khu bảo tồn biển để phát triển du lịch, các khu vực nước sâu để xây dựng phát triển cảng biển và kinh tế hàng hải như: khu vực Bái Tử Long, Vũng Áng, Cái Lân, Dung Quất, Cam Ranh, Vũng Tàu, Thị Vải…
Dọc bờ biển và các hải đảo nhiều nơi có tiềm năng bảo tồn thiên nhiên. Trong đó, có nhiều khu du lịch biển cao cấp, nổi tiếng như: Vạn Chài (Thanh Hóa), Tuần Châu (Hạ Long), Phú Quốc (Kiên Giang), Côn Đảo (Vũng Tàu)…
Hàng năm du lịch trên biển đảo thu hút một lượng khách trong nước và quốc tế tương đối lớn với khoảng 15 triệu lượt khách, trong đó có hơn 3 triệu khách nước ngoài. Ở vùng biển nước ta đã nghiên cứu phát hiện được 11.000 loài động thực vật, trong đó cá biển là hơn 2.000 loài, và nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao như: hải sâm, tôm, cua, mực, rong biển. Theo ước tính đến nay đã có 15 bãi cá lớn quan trọng, trong đó có 3 bãi cá ở gò nổi ngoài khơi và 12 bãi cá vùng ven bờ. Riêng ven bờ có tiềm năng lớn về nuôi trồng thủy sản nước mặn và nước lợ. Khai thác, nuôi trồng thủy hải sản nước lợ là lĩnh vực kinh tế đặc trưng của biển đã đóng góp khoảng 3,4 tỷ USD trong tổng giá trị thủy sản xuất khẩu (năm 2007) và tạo công ăn việc làm cho hàng triệu người lao động. Ngoài ra, biển nước ta còn đem lại nhiều giá trị lớn đối với việc điều hòa khí hậu, là nơi chứa đựng các nguồn năng lượng gió, thủy triều – một nguồn năng lượng sạch vô cùng quý giá có thể khai thác trong tương lai.
Theo tính toán, kinh tế biển và ven biển đóng góp vào GDP của nước ta cũng tương đối lớn. Năm 2000 – 2005 bình quân đạt 47 – 48% tổng GDP của cả nước, trong đó riêng kinh tế biển là 20 – 22%. Đóng góp của ngành kinh tế biển chiếm tới 98%, riêng khai thác dầu khí chiếm 64%, hải sản 14%, du lịch biển 9%, vận tải và dịch vụ cảng biển là 11%. “Trên vùng ven biển đã hình thành 3 vùng kinh tế trọng điểm, gần 30 khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung; hệ thống hơn 80 cảng biển lớn, nhỏ với tổng năng lực hàng hóa thông qua gần 100 triệu tấn/ năm” (3).
Nhờ có chính sách di dân và đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng (hệ thống giao thông, điện, nước, bệnh xá, trường học) kinh tế của một số địa phương đã có bước phát triển nhanh chóng.
Tuy nhiên, nhìn chung sự phát triển kinh tế biển đảo ở nước ta với quy mô còn nhỏ bé, yếu kém và lạc hậu so với nhiều nước trong khu vực và thế giới. Quy mô kinh tế biển ở nước ta năm 2005 đạt khoảng hơn 1 tỷ USD, khi đó năm 2001 sản lượng kinh tế biển của thế giới đạt khoảng 1.300 tỷ USD. Đến nay, nước ta vẫn chưa có đường bộ cao tốc chạy dọc theo bờ biển; các bến cảng, sân bay ven biển và trên một số đảo nhỏ, cơ sở vật chất thấp kém; hệ thống các cơ sở nghiên cứu khao học và công nghệ biển, dự báo thời tiết, quan trắc, tìm kiếm cứu hộ… còn trang bị thô sơ, lạc hậu; các trung tâm thị trấn, thành phố, khu công nghiệp ven biển chưa phát triển, còn mới đang trong thời kỳ xây dựng.
Như vậy, có thể nói tiềm năng biển đảo là vô cùng phong phú, quan trọng. Khai thác biển đảo đã đem lại những lợi ích kinh tế - xã hội to lớn. Nhưng thực tế ở nước ta hiện nay việc khai thác, sử dụng biển đảo chưa mang lại hiệu quả cao và còn thiếu bền vững. Cơ cấu ngành nghề kinh tế biển chưa hợp lý, mới chỉ chú trọng một phần ở vùng biển quốc gia, chư chuẩn bị được những điều kiện cần thiết để vươn ra vùng biển quốc tế. Có thể nói, nước ta là một quốc gia giàu về tiềm năng biển, nhưng chưa thực sự phát huy được thế mạnh của mình. Vậy muốn khai thác được tiềm năng thế mạnh đó cần có nhiều biện pháp, song vai trò quản lý của Nhà nước ta đối với việc khai thác, sử dụng biển đảo như thế nào đó nhằm phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay là một vấn đề hết sức quan trọng.
Những năm gần đây, lĩnh vực biển và hải đảo đã được Nhà nước đặc biệt quan tâm, thông qua việc ban hành các cơ chế, chính sách ưu tiên, khuyến khích phát triển. Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã xác lập hướng đi đúng đắn đối với việc quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển, đảo Việt Nam. Với quan điểm chỉ đạo của Đảng ta là đến năm 2020 nước ta “phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, trên cơ sở phát huy moi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn” (4).
![]() |
Thứ nhất,Nhà nước cần hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển đảo và vùng ven biển. Pháp luật có vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ môi trường nói chung và môi trường biển nói riêng, là cơ sở, công cụ pháp lý để Nhà nước điều tiết, quản lý các hoạt động bảo vệ môi trường vì lợi ích chung của cộng đồng xã hội. Nhà nước ta đã ban hành một số chính sách, pháp luật liên quan đến biển và vùng ven biển, như: Luật Bảo vệ Môi trường, Luật Dầu khí, Luật Hàng hải, Luật Thủy sản, Pháp lệnh Bảo vệ nguồn lợi thủy sản, Pháp lệnh du lịch, kế hoạch quốc gia về Môi trường và Phát triển bền vững. Đồng thời, nước ta cũng đã tích cực tham gia Công ước quốc tế liên quan đến môi trường, trong đó có môi trường biển, như: Công ước MARPOL 73/78, Công ước BASEL, RAMSA, Công ước Luật biển, và Công ước Đa dạng sinh học. Nhiều nghị định của Chính phủ được ban hành quy định hoạt động của các ngành liên quan kinh tế biển, điều tra, nghiên cứu biển, quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển đảo, tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác, sử dụng và bảo vệ biển đảo. Xây dựng khuôn khổ quản lý tổng hợp vùng bờ, bao gồm cơ chế chính sách phối hợp giữa các ngành, giữa trung ương và địa phương, hướng dẫn kỹ thuật và phân vùng chức năng; đồng thời xây dựng và triển khai phương án phân chia ranh giới biển cho cấp tỉnh, giao mặt nước biển cho cộng đồng sử dụng và tự quản lý dưới sự giám sát của Nhà nước để phân cấp quản lý cho địa phương theo vùng chức năng và quản lý dựa vào hệ sinh thái.
Thứ hai, kiện toàn tổ chức Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam và hệ thống quản lý biển đảo các địa phương nhằm thực hiện chức năng quản lý Nhà nước thống nhất đối với biển đảo. Bộ Tài nguyên và Môi trường, trực tiếp là Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam . Trước mắt, phải kiện toàn tổ chức Tổng cục Biển và Hải đảo và hệ thống quản lý biển đảo cấp địa phương để thực hiện chức năng quản lý nhà nước thống nhất đối với biển và hải đảo.
Thứ ba, xây dựng năng lực dự báo biển và điều tra cơ bản, phát triển khoa học – công nghệ nhằm giảm thiểu và xử lý các thảm họa thiên tai và sự cố môi trường biển, ven biển và hải đảo. Về điều tra cơ bản và phát triển khoa học – công nghệ biển phải được coi là giải pháp mang tính đột phá, nhằm phát huy tiềm năng khoa học cho việc khai thác, sử dụng và bảo vệ môi trường biển. Phát triển hệ thống dự báo, cảnh báo phòng, chống thiệt hại, giảm thiểu rủi ro cho các hoạt động trên biển đồng thời xây dựng các công trình điều tra, nghiên cứu tổng hợp biển và đào tạo cán bộ chuyên gia về biển, đảo để quản lý Nhà nước đối với biển, đảo ngày càng đạt được hiệu quả cao hơn.
Thứ tư,đào tạo, bồi dưỡng các nhà quản lý có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Khai thác, sử dụng và bảo vệ môi trường biển là nhiệm vụ của tất cả chúng ta, song để giúp cho người dân có nhận thức và hành động đúng đắn trong việc khai thác, sử dụng, bảo vệ, tái tạo các nguồn tài nguyên biển, cần phải có một đội ngũ các nhà quản lý có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Lực lượng xã hội này chính là những người trực tiếp hoạch định, quản lý, tổ chức hướng dẫn việc thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách, phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương cụ thể. Cần tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát và sớm xây dựng, ban hành quy định giải quyết bồi dưỡng thiệt hại về môi trường biển đảo.
Thứ năm, tăng cường hợp tác của các cấp, các ngành và hợp tác quốc tế về khai thác, sử dụng và bảo vệ môi trường biển. Bảo vệ môi trường nói chung và môi trường biển nói riêng không phải là việc làm của riêng ai mà là nhiệm vụ chung của toàn nhân loại. Bởi vậy, sự hợp tác của các cấp, các ngành và hợp tác quốc tế, khu vực trong lĩnh vực này là luôn cần thiết. Nhà nước cần triển khai rộng rãi, chủ trương xã hội hóa công tác khai thác, sử dụng và bảo vệ biển đảo. Cần phải áp dụng phương pháp đồng quản lý tài nguyên và môi trường biển dựa vào cộng đồng; xây dựng các tiêu chuẩn về chất lượng môi trường biển và tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng biển và hải đảo (dựa theo tính bền vững); xây dựng cơ chế phối hợp kiểm soát môi trường biển (với các địa phương, cảnh sát biển, bộ đội biên phòng…), mạng lưới tuyên truyền biển đảo (các hội, các tổ chức phi chính phủ trong nước, quốc tế, các viện, trường); xây dựng năng lực dự báo biển, các giải pháp kỹ thuật tiên tiến để giám sát sự cố môi trường biển, ven biển và hải đảo để có biện pháp ứng phó kịp thời.
Vấn đề quản lý biển và hải đảo của nước ta có yếu tố khu vực và quốc tế. Do vậy, cần tranh thủ sự hỗ trợ quốc tế phù hợp với tinh thần Công ước Luật biển của Liên hợp quốc.
Thứ sáu, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho công tác khai thác, sử dụng và bảo vệ biển đảo. Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định 373/QĐ-TTg, phê duyệt đề án “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển và hải đảo Việt Nam” từ nay đến năm 2015, với khoản kinh phí dự kiến khoảng 175 tỷ đồng, trong đó ngân sách Trung ương là 120 tỷ đồng, còn lại là ngân sách địa phương. Ngoài ra, cần huy động mọi nguồn lực trong xã hội, có biện pháp, chính sách cụ thể khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư cho việc khai thác, sử dụng và bảo vệ biển đảo có hiệu quả. Cùng với việc đầu tư về tài chính, cần đẩy mạnh tăng cường đầu tư trang thiết bị cho các cơ quan quản lý, bảo vệ môi trường biển.
Như vậy, khai thác, sử dụng và bảo vệ biển đảo Việt Nam hiện nay là một vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết, do đó cần có sự quan tâm chỉ đạo của các cấp, các ngành và nhận thức, ý thức của cộng đồng dân cư. Trong đó, Nhà nước giữ một vai trò to lớn, Nhà nước cần có kế hoạch xây dựng, quy hoạch, quản lý việc khai thác, sử dụng và bảo vệ biển đảo Việt Nam có hiệu quả. Có như vậy biển đảo Việt Nam mới có thể góp phần to lớn vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
1/ Quốc sử triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002, tr 811.
2/ Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 225.
3/ Tài liệu nghiên cứu các Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X – Nxb Chính trị, Hà Nội, 2008, tr 79.
4/ Tài liệu nghiên cứu các Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr 91.
5/ Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr 182.









