Môi trường các khu công nghiệp ở TP. Hồ Chí Minh còn nhiều việc phải làm
Do tăng dân số cơ học và tốc độ đô thị hoá nhanh, nhiều KCN trước đây quy hoạch ở ngoại thành, nay đã nằm trong thành phố nên tình trạng ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước sông, nước ngầm đặc biệt nghiêm trọng.
Thực trạng môi trường các KCN, KCX ở Tp. Hồ Chí Minh có thể đánh giá tương đối khái quát qua kết quả thanh tra mới đây của Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường đối với 5 KCN với 21 cơ sở được thanh tra trên địa bàn thành phố dưới góc độ tuân thủ pháp luật và quản lý nhà nước.
Về tuân thủ pháp luật đối với công tác BVMT
Qua kết quả thanh tra cho thấy, bên cạnh những cơ sở thật sự quan tâm đến công tác BVMT, coi đó như là mục tiêu quan trọng để quảng bá thương hiệu, mở rộng thị trường, không thể tách rời với phát triển sản xuất, thì vẫn còn không ít cơ sở được thanh tra chỉ quan tâm đến lợi nhuận thu được, chưa quan tâm đầu tư cho công tác BVMT vì sức khoẻ cộng đồng và chất lượng môi trường sống của toàn xã hội. Sự "vô cảm" của các doanh nghiệp trước vấn đề ô nhiễm môi trường đã vô tình làm trầm trọng thêm tình trạng ô nhiễm môi trường nước và môi trường không khí tại T.P Hồ chí Minh.
Theo quy hoạch và hiện trạng xây dựng hiện nay, khu vực thượng lưu (con sông cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân thành phố) đã xuất hiện một số KCN nhưng khả năng xử lý nước thải công nghiệp có hạn nên nguy cơ ô nhiễm nguồn nước rất cao. Trong 15 KCX, KCN đã đi vào hoạt động, mới chỉ có 6 KCX, KCN có nhà máy xử lý nước thải tập trung, một số KCN đang gấp rút xây dựng hệ thống xử lý nước thải để đảm bảo đưa vào vận hành trước tháng 1/2008 theo đúng thời hạn mà UBND Thành phố quy định. Một điều đáng lưu tâm là chất lượng xả thải của các KCN, KCX có hệ thống xử lý nước thải vẫn vượt tiêu chuẩn cho phép. Đối với các KCN chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung, chất lượng xả nước thải còn đáng lo ngại hơn. Theo kết quả trưng cầu giám định của Đoàn thanh tra tại điểm xả cuối cùng của 5 KCN được thanh tra, có 3/5 KCN xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép trên 100 lần, 1/5 KCN xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép trên 10 lần, 1/5 KCN xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép dưới 2 lần.
Xét về mặt tổng thể, trên cơ sở kết quả phân tích 45 mẫu nước thải với tổng lượng nước thải là 5.750 m3/ngày đêm của 21 cơ sở được thanh tra (16 cơ sở trong KCN và 5 Công ty đầu tư kinh doanh hạ tầng KCN) cho thấy: Chỉ có 1 mẫu (tương đương với 5,2 % lượng nước xả thải được phân tích) có các thông số ô nhiễm nhỏ hơn tiêu chuẩn cho phép; 44 mẫu còn lại, tương đương với 94,8% lượng nước xả thải được phản tích có một số thông số ô nhiễm vượt tiêu chuẩn cho phép. Đặc biệt, tại thời điểm thanh tra còn phát hiện được 2 cơ sở có hệ thống xử lý nước thải nhưng đang xả ngầm nước thải ra môi trường không qua hệ thống xử lý.
Thời gian qua, việc quản lý chất thải nguy hại (CTNH) tại các KCN, KCX chưa được quan tâm, mặc dù quy chế quản lý CTNH đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành từ năm 1999 kèm theo Quyết định số 155/1 999/QĐ - TTG, đồng thời Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT hướng dẫn
điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ đăng ký cấp phép hành nghề, mã số quản lý CTNH nhưng khá nhiều doanh nghiệp được thanh tra thiếu các thủ tục quản lý CTNH, từ khâu đăng ký chủ nguồn thải CTNH đến quản lý vận chuyển và xử lý CTNH, chủ yếu là chuyển giao CTNH cho đơn vị không có giấy phép quản lý CTNH và không xử lý CTNH mà dùng để san lấp mặt bằng.
Bên cạnh đó, ý thức tuân thủ pháp luật và nhận thức về BVMT của nhiều cơ sở trong KCN, KCX còn yếu kém, vấn đề BVMT tại các cơ sở chưa được quan tâm đúng mức. Một số công ty đầu tư hạ tầng chỉ tính đến việc xây dựng hạ tầng và cho thuê, còn nước thải công nghiệp tại đây thì bỏ mặc doanh nghiệp tự xử lý. Các cơ sở trong KCN chưa quan tâm lưu giữ hồ sơ về BVMT, có tới 213 số doanh nghiệp được thanh tra chỉ lưu giữ quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) hoặc phiếu xác nhận đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường, không xuất trình được ĐTM hoặc bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường. Thậm chí doanh nghiệp chưa biết cần phải tuân thủ nội dung gì trong ĐTM hoặc bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường. Một số cơ sở có biểu hiện không tuân thủ các quy định về BVMT, có hệ thống xử lý nước thải nhưng vận hành không thường xuyên hoặc xả ngầm ra môi trường không qua xử lý hoặc có biểu hiện đối phó khi Đoàn thanh tra đến làm việc. Điều đó được thể hiện qua kết quả thanh tra: Có 20/21 cơ sở xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép; 10/21 cơ sở không thực hiện đúng nội dung ĐTM hoặc bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường; 15/17 cơ sở chưa có hồ sơ đăng ký chủ nguồn thải CTNH; 7/17 cơ sở vi phạm quy định quản lý CTNH không đúng quy định về BVMT.
Một số giải pháp trước mắt và lâu dài
Để giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường nói chung và môi trường các KCN, KCX tại Thành phố, UBND Thành phố cần chỉ đạo triển khai một số biện pháp cụ thể sau:
Thứ nhất, tăng cường công tác truyên truyền, phổ biến phập luật về BVMT và tài nguyên nước cho các tổ chức, cá nhân để nâng cao nhận thức của cộng đồng và ý thức tự giác tuân thủ pháp luật về BVMT, khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên nước.
Thứ hai, đẩy mạnh công tác quản lý cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước, tăng cường nghiệp vụ năng lực để có thể thực hiện nhanh chóng việc xác nhận cam kết BVMT của UBND cấp quận, huyện theo quy định của Luật BVMT năm 2005.
Thứ ba, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về BVMT và tài nguyên nước; tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác môi trường tại Ban quản lý các KCX-KCN của Thành phố, ở cấp quận, huyện, cấp phường và thanh tra chuyên ngành BVMT của Sở Tài nguyên và Môi trường.
Thứ tư,đối với các KCN, KCX được quy hoạch, thời gian tới cần quy định bắt buộc các công ty đầu tư hạ tầng phải xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung hoàn chỉnh mới được phép hoạt động.
Về lâu dài, việc thường xuyên cập nhật thông tin phản hồi để hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hoạt động quản lý nhà nước vế BVMT. Nhìn chung, Luật BVMT năm 2005 đã điều chỉnh khá toàn diện về công tác BVMT trong tình hình mới, tăng cường phân cấp cho UBND các cấp. Tuy nhiên, bên cạnh những nội dung được quy định chi tiết, dễ triển khai thực hiện cũng bộc lộ một số bất cập cần tiếp tục được sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh cho phù hợp như: Việc xác nhận cam kết BVMT của các dự án nằtn trong KCN, KCX; quy định điều chỉnh đối với những dự án đã đi vào hoạt động trước tháng 7/2006 mà không có ĐTM hoặc bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường; quy định trách nhiệm kiểm tra, thanh tra theo phạm vi quản lý nhà nước các cấp.
Với tinh thần luôn sẵn sàng lắng nghe, tiếp thu và điều chỉnh kịp thời những bất cập sau một năm triển khai thi hành luật BVMT, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang khẩn trương hoàn thiện để trình Chính Phủ Nghị định sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 80/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BVMT và tiếp tục ban hành các văn bản quản lý để cụ thể hoá công tác quản lý BVMT.








