Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 25/11/2010 19:19 (GMT+7)

Mô hình đồng quản lý, khai thác bền vững nguồn lợi tôm hùm giống tại Ghềnh Ráng

Thực trạng việc khai thác, ương nuôi tôm hùm giống tại Ghềnh Ráng:

Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội:Ghềnh Ráng có chiều dài bờ biển 15 km. Do ảnh hưởng của khu hệ thuỷ sinh ven biển nhiệt đối phía Nam biển Đông và được che chắn bởi các đảo nhỏ ven bờ như Hòn Đất, Hòn Ngang, Hòn Roi, Hòn Con Cua với các hệ sinh thái tiêu biểu như rạn ngầm, rạn san hô, nền đáy, thảm cỏ biển… nên nguồn lợi thuỷ sản ở khu vực này khá đa dạng và phong phú. Mặc dù phường chỉ có 172 hộ khai thác và 40 hộ ương nuôi thủy sản, song nhờ thuận lợi về đường giao thông Quy Nhơn - Sông Cầu và nguồn khai thác con giống tự nhiên dồi dào, Ghềnh Ráng đã trở thành một trong những trung tâm cung cấp tôm hùm giống tự nhiên có chất lượng cao cho nghề nuôi thương phẩm toàn quốc.

Trong khai thác:Ngư dân Ghềnh Ráng sử dụng cả 3 loại nghề: mành trũ, lặn và đặt bẫy chà, trong khi ở các địa phương khác chỉ khai thác phổ biến là mành trũ. Mức độ khai thác mang tính tận thu với cường lực cao, làm suy giảm nguồn lợi và các hệ sinh thái liên quan như các rạn san hô, thảm cỏ biển… Riêng nghề đặt bẫy chà kết hợp ánh sáng phát triển rất mạnh. Lồng bẫy được bố trí dày đặc và lâu ngày gây ô nhiễm môi trường biển. Nhiều lồng bẫy lấn chiếm cả khu vực bãi tắm Quy Nhơn, làm cản trở hoạt động du lịch và sinh hoạt của cư dân thành phố.

Trong ương nuôi:Vùng ương nuôi tại Bãi Xép chỉ khoảng 5.000m 2tuy nhiên hầu hết mật độ lồng và mật độ tôm nuôi khá dày (khoảng cách giữa các lồng từ 0,5 - 1m, mật độ thả tôm trắng 200 con/m 2, tôm giống nhỏ 100-200 con/m 2tôm giống lớn 100-200 con/m 2). Mặt khác, vùng ương nuôi nằm ngay trong khu vực neo đậu tàu thuyền và rất gần khu dân cư, không tránh khỏi ô nhiễm dầu và chất thải sinh hoạt. Đây là những nguy cơ tiềm ẩn bùng phát dịch bệnh.

Trong công tác quản lý nguồn lợi thủy sản:Cộng đồng chưa thực sự quan tâm đến công tác quản lý nguồn lợi thủy sản (NLTS), việc đánh cá bằng chất nổ, lưới kéo trong vùng rạn san hô chưa có hướng giải quyết hiệu quả.

Kết quả thực hiện mô hình đồng quản lý tại phường Ghềnh Ráng

1. Hình thành tổ chức đồng quản lý NLTS phường Ghềnh Ráng

Được UBND phường Ghềnh Ráng ra quyết định thành lập vào tháng 5/2009, tổ chức đồng quản lý ở phường Ghềnh Ráng gồm Hội đồng Quản lý NLTS khu vực. Thành viên tham gia Hội đồng Quản lý và các nhóm đồng quản lý NLTS, có lãnh đạo phường đại diện cho chính quyền, Hội Nông dân, Mặt trận TQVN, và cộng đồng ngư dân.

2. Xây dựng quy chế hoạt động của tổ chức đồng quản lý:

Nhóm nghiên cứu đã phối hợp với Hội Nông dân và UBND phường dự thảo Quy chế hoạt động của Hội đồng quản lý nguồn lợi thủy sản phường và Quy chế hoạt động của các nhóm đồng quản lý nguồn lợi thủy sản khu vực. Sau khi tổ chức Hội thảo lấy ý kiến của các bên liên quan góp ý bổ sung, Quy chế được UBND phường Ghềnh Ráng ra quyết định ban hành vào tháng 12/2009.

3. Xây dựng quy ước cộng đồng:

Tháng 12/2009, UBND phường ra quyết định công nhận Quy ước cộng đồng về khai thác bền vững nguồn lợi tôm hùm ven biển phường Ghềnh Ráng.

Bản Quy ước cộng đồng gồm 4 chương 11 điều, trong đó nêu rõ: Quyền và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân tham gia khai thác, ương nuôi tôm hùm; Quy định vùng khai thác, mùa vụ khai thác; Quy định về ngư cụ, kích thước mắt lưới, thời gian khai thác… Quy định về vùng nuôi và bảo đảm vệ sinh môi trường vùng nuôi…; Quy định về bảo vệ nguồn lợi và môi trường sống của các loài thủy sản.

4. Hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức:

Đã tổ chức 2 cuộc hội thảo cộng đồng, 2 lớp tập huấn nâng cao nhận thức cho cộng đồng ngư dân, 1 buổi truyền thông trường học. Tổ chức các hoạt động cộng đồng tham gia làm sạch bãi biển, cổ động tuyên truyền… Bản quy ước cộng đồng được in và phát cho toàn bộ dân cư làm nghề thuỷ sản.

5. Xây dựng năng lực cho tổ chức đồng quản lý:

Tập huấn kỹ năng đồng quản lý cho Hội đồng và các nhóm ĐQL NLTS. Hướng dẫn các nhóm tiến hành tuyên truyền, vận động. Kết quả có 156 hộ dân làm nghề khai thác & ương nuôi thủy sản ký cam kết thực hiện Quy ước cộng đồng (đạt 100%). Các nhóm ĐQL NLTS khu vực đã chủ động giám sát việc thực hiện Quy ước, phát hiện các hành vi vi phạm, báo cáo Hội đồng có biện pháp xử lý. Hội đồng đã tổ chức nhiều chuyến tuần tra kiểm soát bảo vệ nguồn lợi thủy sản, chống đánh chất nổ…

6. Hỗ trợ sinh kế:

Kết hợp với các chương trình khuyến ngư, chương trình FSPSII Bình Định, nhóm nghiên cứu đã tổ chức cho ngư dân tham dự tập huấn kỹ thuật ương nuôi tôm hùm, kỹ thuật nuôi cá lóc… với hơn 100 hộ dân tham dự, trong đó FSPSII hỗ trợ thực hiện 1 mô hình nuôi cá lóc tại khu vực II phường Ghềnh Ráng.

Đánh giá hiệu quả ban đầu thực hiện mô hình:

Thời gian thực hiện mô hình mới chỉ được 5 tháng, vì vậy chưa thể đánh giá chính xác hiệu quả kinh tế xã hội cũng như các chỉ tiêu khác về bảo vệ môi trường, nguồn lợi thuỷ sản…

Tuy nhiên, có thể thấy tiến trình thực hiện đồng quản lý NLTS tại Ghềnh Ráng đã đạt được những kết quả bước đầu như sau:

Nhận thức của cộng đồng ngư dân về bảo vệ nguồn lợi và môi trường thủy sản được nâng cao, 100% ngư dân cam kết thực hiện Quy ước cộng đồng. Ngư dân sẽ theo dõi và báo cáo cho Chi cục, UBND phường khi phát hiện các vi phạm về đánh chất nổ, sử dụng lưới kéo trong vùng 6 hải lý trở vào… Bản Quy ước cộng đồng khai thác đã được xây dựng với sự tham gia góp ý của 100% hộ dân làm nghề khai thác và ương nuôi tôm hùm giống, đã được thể chế hoá bởi quyết định công nhận của UBND phường. Các hoạt động quản lý nguồn lợi thủy sản dựa vào cộng đồng đã được UBND phường quan tâm, tổ chức và hỗ trợ thực hiện. Đã khảo sát và đề xuất 1 khu vực ương nuôi mới có diện tích khoảng 2.000 ha tại đông nam Hòn Đất.

Vướng mắc, tồn tại:Chưa có cơ chế tài chính cho hoạt động đồng quản lý, người tham gia tổ chức đồng quản lý chủ yếu là tự nguyện, chưa có thù lao.

Để thực hiện Quy ước cộng đồng, trước mắt ngư dân sẽ bị giảm sản lượng khai thác, giảm thu nhập. Chương trình dạy nghề với các nghề thay thế như nuôi cá lóc, nuôi gà thả vườn… Chỉ mang tính chất xoá đói giảm nghèo nên thiếu tình thuyết phục. Từ đó người dân sẽ khó chấp nhận thực hiện các quy định về kích cỡ mắt lưới, vùng tuyến khai thác, loại nghề…

Mặt khác, hiện nay nhà nước chưa có quy định cụ thể về phân vùng mặt nước, giao quyền quản lý nguồn lợi thuỷ sản cho cộng đồng nên ngư dân chưa thấy rõ lợi ích của việc bảo vệ và khai thác hợp lý NLTS cho cộng đồng địa phương.

Đề nghị:

- Bộ Nông nghiệp và PTNT cần nghiên cứu và ban hành các quy định về quản lý một số loại nghề khai thác có tính tận thu, làm suy giảm nguồn lợi thủy sản.

- Tỉnh cần có chương trình cụ thể về thực hiện đồng quản lý nghề cá; quy hoạch vùng tuyến khai thác, khu vực cấm, khu vực cấm có thời hạn.. để bảo vệ & phát triển NLTS vùng ven bờ.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.