Mô hình đồng quản lý, khai thác bền vững nguồn lợi tôm hùm giống tại Ghềnh Ráng
Thực trạng việc khai thác, ương nuôi tôm hùm giống tại Ghềnh Ráng:
Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội:Ghềnh Ráng có chiều dài bờ biển 15 km. Do ảnh hưởng của khu hệ thuỷ sinh ven biển nhiệt đối phía Nam biển Đông và được che chắn bởi các đảo nhỏ ven bờ như Hòn Đất, Hòn Ngang, Hòn Roi, Hòn Con Cua với các hệ sinh thái tiêu biểu như rạn ngầm, rạn san hô, nền đáy, thảm cỏ biển… nên nguồn lợi thuỷ sản ở khu vực này khá đa dạng và phong phú. Mặc dù phường chỉ có 172 hộ khai thác và 40 hộ ương nuôi thủy sản, song nhờ thuận lợi về đường giao thông Quy Nhơn - Sông Cầu và nguồn khai thác con giống tự nhiên dồi dào, Ghềnh Ráng đã trở thành một trong những trung tâm cung cấp tôm hùm giống tự nhiên có chất lượng cao cho nghề nuôi thương phẩm toàn quốc.
Trong khai thác:Ngư dân Ghềnh Ráng sử dụng cả 3 loại nghề: mành trũ, lặn và đặt bẫy chà, trong khi ở các địa phương khác chỉ khai thác phổ biến là mành trũ. Mức độ khai thác mang tính tận thu với cường lực cao, làm suy giảm nguồn lợi và các hệ sinh thái liên quan như các rạn san hô, thảm cỏ biển… Riêng nghề đặt bẫy chà kết hợp ánh sáng phát triển rất mạnh. Lồng bẫy được bố trí dày đặc và lâu ngày gây ô nhiễm môi trường biển. Nhiều lồng bẫy lấn chiếm cả khu vực bãi tắm Quy Nhơn, làm cản trở hoạt động du lịch và sinh hoạt của cư dân thành phố.
Trong ương nuôi:Vùng ương nuôi tại Bãi Xép chỉ khoảng 5.000m 2tuy nhiên hầu hết mật độ lồng và mật độ tôm nuôi khá dày (khoảng cách giữa các lồng từ 0,5 - 1m, mật độ thả tôm trắng 200 con/m 2, tôm giống nhỏ 100-200 con/m 2tôm giống lớn 100-200 con/m 2). Mặt khác, vùng ương nuôi nằm ngay trong khu vực neo đậu tàu thuyền và rất gần khu dân cư, không tránh khỏi ô nhiễm dầu và chất thải sinh hoạt. Đây là những nguy cơ tiềm ẩn bùng phát dịch bệnh.
Trong công tác quản lý nguồn lợi thủy sản:Cộng đồng chưa thực sự quan tâm đến công tác quản lý nguồn lợi thủy sản (NLTS), việc đánh cá bằng chất nổ, lưới kéo trong vùng rạn san hô chưa có hướng giải quyết hiệu quả.
Kết quả thực hiện mô hình đồng quản lý tại phường Ghềnh Ráng
1. Hình thành tổ chức đồng quản lý NLTS phường Ghềnh Ráng
Được UBND phường Ghềnh Ráng ra quyết định thành lập vào tháng 5/2009, tổ chức đồng quản lý ở phường Ghềnh Ráng gồm Hội đồng Quản lý NLTS khu vực. Thành viên tham gia Hội đồng Quản lý và các nhóm đồng quản lý NLTS, có lãnh đạo phường đại diện cho chính quyền, Hội Nông dân, Mặt trận TQVN, và cộng đồng ngư dân.
2. Xây dựng quy chế hoạt động của tổ chức đồng quản lý:
Nhóm nghiên cứu đã phối hợp với Hội Nông dân và UBND phường dự thảo Quy chế hoạt động của Hội đồng quản lý nguồn lợi thủy sản phường và Quy chế hoạt động của các nhóm đồng quản lý nguồn lợi thủy sản khu vực. Sau khi tổ chức Hội thảo lấy ý kiến của các bên liên quan góp ý bổ sung, Quy chế được UBND phường Ghềnh Ráng ra quyết định ban hành vào tháng 12/2009.
3. Xây dựng quy ước cộng đồng:
Tháng 12/2009, UBND phường ra quyết định công nhận Quy ước cộng đồng về khai thác bền vững nguồn lợi tôm hùm ven biển phường Ghềnh Ráng.
Bản Quy ước cộng đồng gồm 4 chương 11 điều, trong đó nêu rõ: Quyền và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân tham gia khai thác, ương nuôi tôm hùm; Quy định vùng khai thác, mùa vụ khai thác; Quy định về ngư cụ, kích thước mắt lưới, thời gian khai thác… Quy định về vùng nuôi và bảo đảm vệ sinh môi trường vùng nuôi…; Quy định về bảo vệ nguồn lợi và môi trường sống của các loài thủy sản.
4. Hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức:
Đã tổ chức 2 cuộc hội thảo cộng đồng, 2 lớp tập huấn nâng cao nhận thức cho cộng đồng ngư dân, 1 buổi truyền thông trường học. Tổ chức các hoạt động cộng đồng tham gia làm sạch bãi biển, cổ động tuyên truyền… Bản quy ước cộng đồng được in và phát cho toàn bộ dân cư làm nghề thuỷ sản.
5. Xây dựng năng lực cho tổ chức đồng quản lý:
Tập huấn kỹ năng đồng quản lý cho Hội đồng và các nhóm ĐQL NLTS. Hướng dẫn các nhóm tiến hành tuyên truyền, vận động. Kết quả có 156 hộ dân làm nghề khai thác & ương nuôi thủy sản ký cam kết thực hiện Quy ước cộng đồng (đạt 100%). Các nhóm ĐQL NLTS khu vực đã chủ động giám sát việc thực hiện Quy ước, phát hiện các hành vi vi phạm, báo cáo Hội đồng có biện pháp xử lý. Hội đồng đã tổ chức nhiều chuyến tuần tra kiểm soát bảo vệ nguồn lợi thủy sản, chống đánh chất nổ…
6. Hỗ trợ sinh kế:
Kết hợp với các chương trình khuyến ngư, chương trình FSPSII Bình Định, nhóm nghiên cứu đã tổ chức cho ngư dân tham dự tập huấn kỹ thuật ương nuôi tôm hùm, kỹ thuật nuôi cá lóc… với hơn 100 hộ dân tham dự, trong đó FSPSII hỗ trợ thực hiện 1 mô hình nuôi cá lóc tại khu vực II phường Ghềnh Ráng.
Đánh giá hiệu quả ban đầu thực hiện mô hình:
Thời gian thực hiện mô hình mới chỉ được 5 tháng, vì vậy chưa thể đánh giá chính xác hiệu quả kinh tế xã hội cũng như các chỉ tiêu khác về bảo vệ môi trường, nguồn lợi thuỷ sản…
Tuy nhiên, có thể thấy tiến trình thực hiện đồng quản lý NLTS tại Ghềnh Ráng đã đạt được những kết quả bước đầu như sau:
Nhận thức của cộng đồng ngư dân về bảo vệ nguồn lợi và môi trường thủy sản được nâng cao, 100% ngư dân cam kết thực hiện Quy ước cộng đồng. Ngư dân sẽ theo dõi và báo cáo cho Chi cục, UBND phường khi phát hiện các vi phạm về đánh chất nổ, sử dụng lưới kéo trong vùng 6 hải lý trở vào… Bản Quy ước cộng đồng khai thác đã được xây dựng với sự tham gia góp ý của 100% hộ dân làm nghề khai thác và ương nuôi tôm hùm giống, đã được thể chế hoá bởi quyết định công nhận của UBND phường. Các hoạt động quản lý nguồn lợi thủy sản dựa vào cộng đồng đã được UBND phường quan tâm, tổ chức và hỗ trợ thực hiện. Đã khảo sát và đề xuất 1 khu vực ương nuôi mới có diện tích khoảng 2.000 ha tại đông nam Hòn Đất.
Vướng mắc, tồn tại:Chưa có cơ chế tài chính cho hoạt động đồng quản lý, người tham gia tổ chức đồng quản lý chủ yếu là tự nguyện, chưa có thù lao.
Để thực hiện Quy ước cộng đồng, trước mắt ngư dân sẽ bị giảm sản lượng khai thác, giảm thu nhập. Chương trình dạy nghề với các nghề thay thế như nuôi cá lóc, nuôi gà thả vườn… Chỉ mang tính chất xoá đói giảm nghèo nên thiếu tình thuyết phục. Từ đó người dân sẽ khó chấp nhận thực hiện các quy định về kích cỡ mắt lưới, vùng tuyến khai thác, loại nghề…
Mặt khác, hiện nay nhà nước chưa có quy định cụ thể về phân vùng mặt nước, giao quyền quản lý nguồn lợi thuỷ sản cho cộng đồng nên ngư dân chưa thấy rõ lợi ích của việc bảo vệ và khai thác hợp lý NLTS cho cộng đồng địa phương.
Đề nghị:
- Bộ Nông nghiệp và PTNT cần nghiên cứu và ban hành các quy định về quản lý một số loại nghề khai thác có tính tận thu, làm suy giảm nguồn lợi thủy sản.
- Tỉnh cần có chương trình cụ thể về thực hiện đồng quản lý nghề cá; quy hoạch vùng tuyến khai thác, khu vực cấm, khu vực cấm có thời hạn.. để bảo vệ & phát triển NLTS vùng ven bờ.








