Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 12/05/2006 15:23 (GMT+7)

Mấy vần đề về lịch sử Việt Nam: Nói chuyện với GS KEITH W.TAYLOR

GS K.W.Taylor đã từng đến Việt Nam trong các chương trình hợp tác với Viện khảo cổ học, Viện Sử học và Viện Ngôn ngữ năm 1986, 1992-1994 và 1997. Ngoài nhiều bài tạp chí nghiên cứu về Việt Nam, giáo sư có hai cuốn sách là: Sự ra đời của Việt Nam(1983) và Khảo luận về quá khứ Việt Nam(1995).

Nhân dịp giáo sư đến thăm Tòa soạn Xưa & nay ngày 29-5-2001, chúng tôi đã trao đổi một số vấn đề về sự quan tâm của GS đối với lịch sử Việt Nam. Sau đây là nội dung cuộc trao đổi.

* Trong quá trình nghiên cứu lịch sử Việt Nam, những vấn đề nào được giáo sư quan tâm nhiều nhất?

* Lịch sử Việt Nam thường được cấu trúc trong sự kế tiếp của các triều đại. Những nhân vật chính là vua, hoàng tử và triều thần. Những sự kiện chính là các cuộc xâm lăng, chiến tranh và việc tổ chức cai trị. Nhưng điều mà tôi quan tâm hơn là ở cấp độ làng xã, đền chùa, nông nghiệp và chợ búa. Ở cấp độ này, những nhân vật chính hầu hết thường vô danh và những sự kiện chính hầu hết được ghi chép lại theo quan điểm của người cai trị. Tuy nhiên, sức sống hàng ngày của hàng vạn con người bình thường đã không ngừng sản sinh ra những sự kiện khiến cho cuộc sống chính trị và văn hóa chuyển theo những chiều hướng mới.

Thí dụ, chúng ta đều rất quen thuộc khi đọc những lời ca ngợi những công tích thời Hồng Đức của vua Lê Thánh Tông vào cuối thế kỷ XV. Thế nhưng, ít khi chúng ta được đọc một sự lý giải xác đáng về việc tại sao chỉ mấy năm sau đấy những thành tựu đó lại tan tành dưới áp lực   

của các cuộc nổi dậy nông dân và việc tranh giành giữa các dòng họ có thế lực. Liệu chúng ta có thể hiểu ra việc tại sao triều Lê lại sụp đổ nhanh chóng trong thế kỷ XVI? Liệu chúng ta có thể hiểu được tại sao hàng ngàn nông dân lại đi theo Trần Cảo khi ông chống lại triều Lê trong nhiều năm trời? Liệu chúng ta có thể hiểu tại sao họ Mạc lại có tiếng tăm ở vùng đồng bằng sông Hồng đến thế? Để giải đáp những câu hỏi này, chúng ta cần phải suy nghĩ đến các làng xã và đền chùa, về những người dân quê và các nhà sư, và cả về các thương nhân. Lịch sử Việt Nam bao hàm những dòng chảy đa dạng về tri thức và tôn giáo. Ngoài đạo Khổng mà nhà Lê và nhà Nguyễn đề cao, Phật giáo cùng với Đạo giáo, việc thờ Mẫu và Công giáo và nhiều tư tưởng khác rất thịnh hành ở các làng quê.

* GS phát hiện ra những đặc điểm này của lịch sử Việt Nam từ lúc nào, và vì những lý do gì?

*Những suy nghĩ của bản thân tôi về lịch sử Việt Nam bắt đầu có sự thay đổi khi tôi học để đọc được một số những bản Nôm đang còn đến nay.

Tôi bắt đầu hiểu ra rằng tại sao hầu hết các nhà cai trị lại nghi ngại việc viết chữ Nôm. Nhiều đời vua đã cấm hay hạn chế việc sử dụng chữ Nôm. Vào cuối thế kỷ XIX triều Nguyễn tìm cách kiểm soát chữ Nôm bằng việc hệ thống hóa nó và kết quả là làm cho nó càng phức tạp và khó sử dụng hơn. Lẽ ra chữ Nôm có thể phát triển theo một trong hai cách. Một là hướng theo cách viết đơn giản hơn để biểu thị cách phát âm của từ như đã diễn ra tại Nhật bản và Triều Tiên. Nhưng ở Việt Nam, sự can thiệp của các triều đại đã đẩy chữ Nôm thành thứ văn tự biểu nghĩa một cách cầu kỳ và rối rắm. Vào thế kỷ XVII, tác giả của Chỉ Nam Ngọc âmđã viết trong lời đề tựa rằng chữ Nôm cần phải được giản lược đi để phù hợp với cách phát âm tiếng địa phương. Thế nhưng hai thế kỷ sau thì chiều hướng lại ngày càng trở nên phức tạp hơn và chữ Nôm đã không phát triển ngoài lớp đồ nho. tại sao? Chúng ta có thể ức đoán rằng những ông đồ Việt Nam liên kết với các triều vua không muốn nới lỏng độc quyền của họ về chữ viết. Do vậy họ chuộng cách viết chữ Nôm vẫn tương đối khó tiếp cận với dân thường và tiếp tục phức tạp hóa những yếu tố ngữ âm bằng các yếu tố tượng trưng. Điều này nói lên rằng ở Việt Nam, hơn cả Nhật Bản và Triều Tiên, vẫn tồn tại một khoảng cách đáng kể giữa văn hóa người có học với văn hóa thường dân. Sự sụp đổ đột ngột của quyền lực triều đình đầu thế kỷ XVI thừa nhận cuộc nổi dậy rộng lớn của nông dân có thể nói cho ta hay rằng những thành tựu rất được ca ngợi của việc cai trị thời Hồng Đức trong thực tế là rất mong manh và không dựa vào văn hóa làng. Mong mỏi của các nhà nho thời Hồng Đức nhằm áp đặt những tư tưởng của mình lên làng xã đã thất bại, và bởi thế ta chứng kiến sự hồi sinh của Phật giáo và tôn giáo dân gian trong những thế kỷ sau, khi quyền lực chính trị bị chia sẻ và trang giành. Bất chấp điều này, chữ Nôm tiếp tục được phức hợp hóa theo biểu hiện ngày càng tượng trưng, hơn là được giản lược hóa theo hướng văn tự gần với phát âm hơn. Các ông đồ nho vẫn tiếp tục canh giữ ranh giới giữa người có chữ với dân thường.

* Như vậy, theo giáo sư có hay không mâu thuẫn giữa văn hóa của tầng lớp thống trị với văn hóa của dân gian bắt đầu từ nhà Lê?

* Thí dụ về chữ Nôm gợi ra rằng ở Việt Nam văn hóa cung đình và văn hóa làng xã cần được hiểu theo những cách khác nhau. Ở cung đình, điều ưu tiên là thống nhất và tập quyền, là khẳng định sự kiểm soát đối với làng xã. Ở làng xã, điều ưu tiên là ra sức bảo vệ quyền tự trị địa phương chống lại sự can thiệp của chính quyền Trung ương. Chẳng có gì bất ngờ hay đặc biệt về điều này. Đấy là một trải nghiệm chung trong lịch sử nhiều quốc gia. Điều đáng chú ý về Việt Nam là vai trò của đạo Phật, tôn giáo dân gian và Công giáo trong việc tổ chức đời sống văn hóa của làng xã và các thị tứ. Đời sống văn hóa cấp địa phương này rất sống động và đa dạng.

Ngược lại với chính sách các vua nhà Lê trong thế kỷ XV, thái độ của các vua đời Lý, Trần đối với làng xã lại rất cởi mở. Là những người theo đạo Phật, họ chống lại sự phân đôi giữa họ và dân thường. Chừng nào không có nổi loạn các làng xã được tự do phát triển đời sống văn hóa tự trị của mình. Tuy nhiên, sau khi bị nhà Minh xâm chiếm vào đầu thế kỷ XV, khi các chùa chiền bị phá dỡ và việc giáo dục đạo Nho được đẩy mạnh, các vua nhà Lê mang một thái độ ông thầy đối với văn hóa làng xã và muốn cải cách nó cho phù hợp hơn với tư tưởng Nho giáo. Cũng vậy, với việc bành trướng quân sự vào phía Nam, triều Lê muốn ngăn chặn ảnh hưởng của văn hóa Chăm thâm nhập vào các làng quê Việt Nam. từ thế kỷ XVII, các tù nhân người Chăm được tái định cư ở nhiều địa phương và họ đã có những đóng góp có ý nghĩa vào sự phát triển của văn hóa làng và tôn giáo dân gian. Cố gắng của thời Hồng Đức nhằm đưa những tư tưởng Nho giáo vào công việc cai trị và xã hội Việt Nam từ phương Bắc (Trung Hoa) là nhằm chuyển hướng văn hóa làng xã theo cách để các nhà cầm quyền dễ dàng giám sát và kiểm soạt hơn. Tuy vậy, nỗ lực này chỉ đơn giản làm xa cách nhà cai trị với sức sống của nhân dân họ.

Điều đáng chú ý là trong số 125 nhân vật lịch sử được kể ra trong Thoát hiên vịnh sử thi tậpmà Đặng Minh Khiêm viết ra hồi đầu thế kỷ XVI, không có ai thuộc về triều đại nhà Lê. Hầu hết là thuộc đời Trần, nhiều người thuộc đời Lý và số còn lại thuộc về các thời trước nũa. Đặng Minh Khiêm về thời đại nhà Trần đã nói lên điều mà chúng ta có thể hình dung ra rằng đó chính là những cảm nhận của hàng ngàn nông dân đi theo ngọn cờ khởi nghĩa của Trần Cảo, vốn là một nhà lãnh đạo Phật giáo và tự xưng là thành viên của hoàng gia nhà Trần. Đặng Minh Khiêm sống vào những năm có cuộc khởi nghĩa của Trần Cảo. Là một người có học, rõ ràng ông không thể đồng ý đi theo người cầm đầu nổi loạn, và ông vẫn trung thành với vị vua tích cực bấy giờ của triều Lê, chọn việc đi theo vua khi nhà vua trốn chạy vào vùng sơn cước. Nhưng đồng thời ông lại viết ra một cuốn sách ca ngợi những con người thời nhà Trần, đồng thời lại bỏ qua những người thời nhà Lê. Các vua đời Trần có tiếng là những người nhiều cảm tình và gần gũi với dân làng nhưng các ông vua nhà Lê lại tìm mọi cách để cách biệt họ với các làng xã và thay đổi lối sống của các làng xã.

Một khía cạnh khác là trong khi các vua Trần xuất xứ từ đồng bằng sông Hồng thì các vua đời Lê trong thế kỷ XV xuất xứ ở Thanh Hóa. Trong thế kỷ XVI cuộc sống làng xã ở lưu vực sông Hồng ổn định dưới sự cai trị của nhà Mạc vốn xuất xứ từ đồng bằng sông Hồng và khuyến khích Phật giáo và tôn giáo dân gian. Thanh Hóa lại có một nền tảng văn hóa và dân tộc khác với đồng bằng sông Hồng, nơi mà Phật giáo cắm rễ kém hơn trong nhiều thế kỷ và dễ chấp nhận các tư tưởng Nho giáo về cai trị hơn. Khi các dòng họ Lê-Trịnh từ Thanh Hóa chinh phục được đồng bằng sông Hồng vào cuối thế kỷ XVI, họ đã thận trọng tránh dùng những chính sách can thiệp quá đáng vào công việc của làng xã như đã từng áp dụng bới các vua Lê trong thế kỷ XV.

* Vậy những nguyên nhân gì đã dẫn đến sự cách biệt giữa văn hóa triều đình và văn hóa làng xã từ thế kỷ XV?

* Chúng ta cũng có thể ức đoán rằng các vua đời Lê trong thế kỷ XV theo đuổi chính sách tích cực của họ đối với làng xã là do tình hình nhiễu nhương thời nhà Minh đô hộ và do nhu cầu tổ chức lại đời sống làng xã sau những năm bị ngoại bang chiếm đóng và chiến tranh. Thế nhưng do chủ trương một trật tự mới dựa trên những tư tưởng cai trị và xã hội từ nước ngoài họ đã không hiểu được bản chất và sức sống của đời sống làng xã Việt Nam và việc chăm bón những hình thái của đời sống văn hóa đã nuôi dưỡng nhân dân Việt Nam nhiều thế kỷ.

Trong khi đó, vào thế kỷ XVII và XVIII, nhân dân Việt Nam tiếp tục phát triển đời sống văn hóa của mình chung quanh những chùa chiền, đền miếu và nhà thờ. Thương mại và các thị tứ cũng như nông nghiệp là những yếu tố quan trọng trong công việc nuôi dưỡng đời sống văn hóa này. Các thương nhân đã đóng góp cho nền tảng kinh tế của tôn giáo dân gian.

Chính tại những trung tâm thương mại địa phương và dọc các tuyến đường thương mại chính những đền chùa lớn được xây cất và những khuynh hướng tôn giáo mới xuất hiện. Phật giáo được hoằng dương, việc thờ cúng những vị thần mới như Liễu Hạnh lan rộng, việc thờ cúng những vị thần chính thức hơn như Trần Hưng Đạo được chú trọng hơn trước, và Công giáo đã có mặt ở nhiều địa phương.

Trong nhiều năm tôi đã quan tâm đến triều đại nhà Lý. Những ông vua trong thế kỷ XI rất gần gũi với văn hóa làng xã. Họ bỏ nhiều thời gian đi khắp đất nước, thăm các đền chùa và làng mạc. Họ khảo sát những vị thần địa phương và không chỉ tôn thờ những vị thần này mà thường còn xây đền miếu cho họ ngay tại Thăng Long. Các vị vua này theo đạo Phật, mà Phật giáo lúc bấy giờ cắm rễ sâu vào văn hóa lãng xã và cả vào trong việc thờ cúng những thần thánh địa phương. Sau này các sử gia đạo Nho đã chỉ trích các vua Lý là quá mê tín, nhưng cái mà các sử gia này gọi là mê tín có lẽ đơn giản chỉ là tinh thần sáng tạo của nhân dân được thể hiện qua những hình thức nghi lễ cộng đồng. Các vua nhà Lý hiểu tầm quan trọng của những hình thức các tập tục xã hội dân gian đó và đã khôn khéo tham dự vào. Họ đã xác lập một nền tảng văn hóa chính trị cho một vương quốc kéo dài trong 400 năm.

Thật vậy, cũng như mọi chế độ chính trị, vào lúc bắt đầu thế kỷ XIII, cấu trúc vương triều nhà Lý cuối cùng đi đến điểm phân rã. Những người cầm đầu dòng họ nhà Trần đã tạo ra một phương thuốc chữa chạy sự bế tắc của hệ thống chính trị đời Lý và duy trì một thái độ khoan dung và mềm dẻo đối với văn hóa làng giống như thời nhà Lý. Tuy nhiên sự sụp đổ của sự cai trị triều đại nhà Trần vào cuối thế kỷ XIV lại trùng hợp với sự hưng thịnh của triều đại nhà Minh ở Trung Hoa. Rốt cuộc vào thế kỷ XV các vua nhà Lê đáp ứng những tư tưởng “hiện đại và duy lý hơn” của Nho giáo đến từ Trung Hoa thời Minh với việc coi văn hóa làng xã là một vấn đề mà không phải là một bệ đỡ và một khoảng cách đáng kể giữa vua với làng xã bắt đầu nới rộng. Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, các vua liên tiếp ban hành sắc chỉ nhằm thay đổi cấu trúc tinh thần và xã hội của đời sống làng xã như thể cách sống chi phối các dân làng là một mối đe dọa đối với quyền lực của họ. Thái độ này về cơ bản rất khác với thái độ của các vua đời Lý và đời Trần, những người tán thành và tôn trọng văn hóa làng xã.

Thật đặc biệt hấp dẫn khi xem những đóng góp của các vua đời nhà Lý, bởi lẽ lịch sử về đời nhà Lý phần nào bị che phủ bởi cái bóng của các vua nhà Trần. Các vua nhà Lý đã xa xưa với chúng ta, nhưng khám phá và xây dựng một ký ức có ích về họ là một nhiệm vụ đặt ra không những đối với các học giả mà với các nhà lãnh đạo chính trị và dân thường nữa. Sự lãnh đạo sáng tạo của họ gồm sự kết hợp quyền lực chính trị trung ương với văn hóa làng xã đã không được nhiều người hiểu ra. Những thành tựu của họ vẫn đáng để cho chúng ta ngày nay xem xét.

Nguồn: Xưa và Nay, số 95, tháng 7-2001.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Tổng Bí thư Tô Lâm trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo
Chiều 30/3, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã dự lễ trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ.
Đổi mới công tác tư vấn, phản biện: “Chìa khóa” để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức
Giới chuyên môn nhận định, chuyển đổi số và AI sẽ tạo bước đột phá cho công tác tư vấn, phản biện nhờ sự giao thoa giữa trí tuệ chuyên gia, sức mạnh dữ liệu cùng các công cụ phân tích hiện đại. Tuy nhiên, thực tế hoạt động tư vấn phản biện hiện chưa theo kịp yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết phải làm chủ các nền tảng số và phương pháp phân tích hiện đại để thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng và thực tiễn.
Hội thảo khoa học quốc gia “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”
Ngày 27/3/2026, tại Trường Đại học Hải Phòng đã diễn ra Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”. Hội thảo do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố, Trường Đại học Hải Phòng, Đại học Phenikaa, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đồng tổ chức.
Phú Thọ: Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp
Ngày 28/3/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Hội Luật gia tỉnh tổ chức Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Đắk Lắk: Ths. Đoàn Văn Thanh và Ths. Lê Văn Dần được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội
Chiều ngày 26/3/ 2026, tại Hội trường cơ quan, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (Liên hiệp Hội) Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) với ba nội dung: Thực hiện quy trình công tác cán bộ; Sơ kết công tác quý I, triển khai nhiệm vụ công tác quý II và Trao quyết định công nhận tổ chức thành viên mới.
Gia Lai: Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện Dự án Sa nhân tím
Ngày 25/3/2026, xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Hội nghị sơ kết giữa kỳ Dự án “Hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu cây dược liệu sa nhân dưới tán rừng cho cộng đồng dân tộc thiểu số góp phần cải thiện sinh kế người dân, bảo tồn hệ sinh thái rừng, thích ứng biến đổi khí hậu tại xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai”.
Hội Điều dưỡng Hải Phòng nâng cao chất lượng điều dưỡng, hướng tới sự hài lòng người bệnh
Ngày 25/3/2026, tại Bệnh viện Kiến An, Hội Điều dưỡng thành phố Hải Phòng tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đại hội đánh dấu bước chuyển quan trọng sau khi hợp nhất Hội Điều dưỡng Hải Phòng và Hội Điều dưỡng Hải Dương trước đây, tạo nền tảng thống nhất, đồng bộ trong phát triển công tác điều dưỡng trên địa bàn thành phố.
Đảng ủy VUSTA trang trọng tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng và Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ (mở rộng)
Ngày 27/3, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng đợt 03/02/2026 và Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ (mở rộng). Sự kiện không chỉ là dịp ghi nhận những cống hiến của các đảng viên lão thành mà còn là diễn đàn quan trọng đánh giá kết quả công tác Quý I, nhiệm vụ trọng tâm Quý II/2026 của Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam.
VUSTA kỷ niệm 43 năm Ngày thành lập, đánh dấu một hành trình kiến tạo và cống hiến bền bỉ
Chiều ngày 26/3, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm và chuỗi các hoạt động đặc biệt chào mừng kỷ niệm 43 năm Ngày thành lập (26/3/1983 - 26/3/2026). Sự kiện là dấu mốc ý nghĩa ghi dấu hành trình hơn bốn thập kỷ kiến tạo và cống hiến của VUSTA – ngôi nhà chung của đội ngũ trí thức KH&CN Việt Nam.
Bí thư Đảng uỷ VUSTA Châu Văn Minh thăm và làm việc với Quỹ Hỗ trợ Sáng tạo Kỹ thuật Việt Nam (VIFOTEC)
Chiều ngày 25/3, GS.VS. Châu Văn Minh – Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) dẫn đầu đoàn công tác đã đến thăm và làm việc với ban lãnh đạo cùng đội ngũ cán bộ, người lao động của Quỹ Hỗ trợ Sáng tạo Kỹ thuật Việt Nam (VIFOTEC).