Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 19/09/2007 22:36 (GMT+7)

Lược sử vùng đất Nam Bộ Giai đoạn từ năm 1954 tới nay

Điều 11 của Hiệp định Giơ - ne - vơ năm 1954 về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam quy định:

“Theo nguyên tắc ngừng bắn đồng thời khắp toàn cõi Đông Dương, việc đình chỉ chiến sự phải đồng thời trên toàn cõi Việt Nam , tại tất cả các chiến trường và cho tất cả các lực lượng của hai bên.

Tính theo thời gian thực sự cần thiết để truyền lệnh ngừng bắn tới những cấp thấp nhất của lực lượng chiến đấu đôi bên, hai bên đồng ý sẽ thực hiện ngừng bắn hoàn toàn và đồng thời, theo từng khoản lãnh thổ trong những điều kiện sau đây:

- Ở Bắc bộ Việt Nam , đúng 8 giờ (địa phương) ngày hai mươi bảy (27) tháng bảy (7) năm 1954.

- Ở Trung bộ Việt Nam , đúng 8 giờ (địa phương) ngày mồng một (1) tháng tám (8) năm 1954.

- Ở Nambộ Việt Nam , đúng 8 giờ (địa phương) ngày mười một (11) tháng tám (8) năm 1954”.

Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Giơ - ne - vơ năm 1954 về khôi phục hoà bình ở Đông Dương cũng khẳng định:

“11. Hội nghị ghi nhận tuyên bố của Chính phủ Pháp theo hướng là để giải quyết mọi vấn đề liên quan đến việc củng cố và thiết lập lại hoà bình ở Campuchia, Lào và Việt Nam, Chính phủ Phát sẽ xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng độc lập và chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia, Lào và Việt Nam.

12. Trong mối quan hệ của mình, Campuchia, Lào và Việt Nam, mỗi nước thành viên Hội nghị Giơ - ne - vơ năm 1954 cam kết tôn trọng chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia nói trên và kiềm chế trong bất cứ việc nào can thiệp đến công việc nội bộ của họ”.

Như vậy, theo Hiệp định Giơ - ne - vơ năm 1954 về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam và Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Giơ - ne - vơ năm 1954 về khôi phục hoà bình ở Đông Dương, Việt Nam chỉ tạm thời bị cắt theo một giới tuyến quân sự tạm thời để lực lượng quân đội Liên hiệp Pháp tập kết tại những nơi ở phía Nam giới tuyến đó trong thời gian đình chỉ, trước khi hoàn toàn rút khỏi Việt Nam. Campuchia, Lào và các nước tham gia hội nghị đều đã cam kết tôn trọng chủ quyền, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, bao gồm cả vùng đất Nam bộ.

Nhưng đế quốc Mỹ đã ngang nhiên can thiệp vào công việc nội bộ của dân tộc Việt Nam, dựng nên chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam, phá hoại Hiệp định Giơ - ne - vơ, với âm mưu chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam .

Trong thời gian đất nước bị chia cắt, đã xảy ra nhiều xung đột, tranh chấp biên giới giữa chính quyền Sài Gòn và Campuchia. Trong tình hình đó, các chính quyền khác nhau của Nhà nước Campuchia và Quốc vương Nô - rô - đôm Xi - ha - núc đã nhiều lần tuyên bố (năm 1964, 1967) thừa nhận và tôn trọng đường biên giới hiện tại giữa Campuchia với các nước láng giềng, được thể hiện trên các bản đồ do Sở Địa dư Đông Dương (Service Géographique de l’Indochine) ấn hành trước Hiệp định Giơ - ne - vơ năm 1954.

Ngày 3 - 3 - 1964, ông Huốt Sam - bat (Huot Sambath), Quốc vụ khanh đặc trách ngoại giao của Chính phủ Campuchia gửi cho Ngoại trưởng Mỹ Din Ratcơ (Dean Rusk) một dự thảo “Tuyên bố về nền trung lập của Campuchia” và dự thảo “Nghị định thư” về tuyên bố này. Trong dự thảo có đoạn nêu rõ ranh giới hiện nay của Vương quốc Campuchia với Việt Nam là “đường biên giới trên các bản đồ tỷ lệ 1/100.000 của Sở Địa dư Đông Dương (Service Géographique de l’Indochine) sử dụng trước các Hiệp định Giơ - ne - vơ năm 1954”.

Ngày 20 - 6 - 1964, Quốc vương Nô - rô - đôm Xi - ha - núc gửi thư cho Chủ tịch đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam Nguyễn Hữu Thọ, mong muốn gặp Chủ tịch để trao đổi ý kiến về vấn đề biên giới. Trong thư, Quốc vương Nô - rô - đôm Xi - ha - núc khẳng định: “ Chúng tôi từ bỏ mọi đòi hỏi về vấn đề đất đai để đổi lấy một sự công nhận rõ ràng đường biên giới hiện tại và chủ quyền của chúng tôi đối với các đảo ven biển mà Chính phủ Sài Gòn đã đòi hỏi một cách phi pháp”.

Ngày 18 - 8 - 1964, Quốc Vương Nô - rô - đôm Xi - ha - núc một lần nữa lại gửi thư cho Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ, khẳng định: “ về phần mình, Campuchia đòi sự công nhận đường biên giới hiện tại trên đất liền của mình như được vẽ trên các bản đồ thông dụng đến năm 1954 và sự công nhận chủ quyền của Campuchia đối với các đảo ven bờ mà chế độ Sài gòn đã đòi hỏi mà không có một chút lý lẽ gì để biện hộ được”.

Ngày 9 - 5 - 1967, Chính phủ Vương quốc Campuchia ra Tuyên bố kêu gọi các nước tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ Campuchia trong đường biên giới hiện tại độc lập. Đáp lại lời kêu gọi của Campuchia, ngày 31 - 5 - 1967 và 8 - 6 - 1967, Uỷ ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Namvà Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hoà đã lần lượt ra tuyên bố thừa nhận và cam kết tôn trọng đường biên giới hiện tại của Campuchia.

Đến cuối năm 1968, đã có 34 nước, trong đó có Bỉ, Pháp, Tây Ban Nha, Italia và Hà Lan, ra tuyên bố tôn trọng độc lập chủ quyền, trung lập và toàn vẹn lãnh thổ của Vương quốc Campuchia trong các đường biên giới hiện tại. Ngày 16 - 4 - 1969, Chính phủ Mỹ tuyên bố: “ Theo Hiến chương Liên hợp quốc, Mỹ công nhận và tôn trọng chủ quyền, nền độc lập, trung lập và toàn vẹn lãnh thổ của Vương quốc Campuchia trong các đường biên giới hiện tại”. Tuyên bố của Ô - xtrây - li - a ngày 21 - 2 - 1968 cũng có nội dung tương tự (1).

Thực hiện lời Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào Nambộ ngày 31 - 5 - 1946, “ Đồng bào Nambộ là dân nước Việt Nam . Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi” (2), các tầng lớp nhân dân Việt Nam đã anh dũng đứng lên đấu tranh kiên cường chống lại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ để giải phóng miền Nam Việt Nam.

Trong cuộc đấu tranh đầy hy sinh, gian khổ này, quân và dân vùng đất Thành đồng Tổ Quốc đã nhận được sự chi viện lớn lao của nhân dân cả nước. Với những khẩu hiệu “ Vì miền Nam thân yêu”, “ Tất cả cho tiền tuyến”, “ Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”… hàng trăm ngàn thanh niên nam nữ thuộc đủ các dân tộc sinh sống tại miền Bắc và miền Trung đã lên đường vào miền Nam chiến đấu. Không ít người trong số này đã vĩnh viễn nằm lại trên mảnh đất phía Nam của Tổ Quốc…

Trước nguy cơ thất bại hoàn toàn, ngày 27 - 1 - 1973, với sự chứng kiến của tất cả các nước tham gia Hội nghị Paris, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam đã được ký kết, một lần nữa khẳng định: “ Mỹ và các quốc gia khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam như đã được công nhận trong Hiệp định Giơ - ne - vơ năm 1954 về Việt Nam” (Điều 1). Mỹ cam kết rút toàn bộ lực lượng của mình khỏi miền Nam Việt Nam . Hai miền Nam, Bắc Việt Nam sẽ tiến tới bầu cử thống nhất đất nước.

Tháng 4 - 1975, với đại thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, miền Nam Việt Nam đã hoàn toàn được giải phóng và trên thực tế cả nước đã được thống nhất. Chưa kịp hưởng trọn vẹn niềm vui Bắc - Nam sum họp một nhà, nhân dân Việt Nam đã buộc phải cầm súng đánh bại cuộc chiến tranh xâm lấn biên giới Tây Nam trong những năm 1977 - 1978, bảo vệ vững chắc biên cương của Tổ quốc.

Như vậy, bằng bao xương máu, hy sinh, nhân dân Nam bộ và cả nước đã đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ; giữ vững độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, thống nhất giang sơn. Trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước, biết bao thế hệ và hàng triệu người con ưu tú của dân tộc Việt Nam đã đổ máu hy sinh để bảo vệ độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Trước mọi âm mưu xâm chiếm hoặc chia cắt đất nước, dù chỉ là một tấc đất, trong đó có vùng đất Nam bộ, toàn thể cộng đồng dân tộc Việt Nam đều không tiếc máu xương cầm súng đứng lên bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mình.

Sau khi đất nước được thống nhất, non sông thu về một mối, thực hiện chính sách hoà bình, hữu nghị với các nước láng giềng, Việt Nam và Cộng hoà nhân dân Campuchia.

Theo Hiệp ước hoà bình, hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà nhân dân Campuchia, ký ngày 18 - 2 - 1979, Điều 4 có ghi: “ Hai bên cam kết sẽ giải quyết bằng thương lượng hoà bình tất cả những bất đồng có thể nảy sinh trong quan hệ giữa hai nước. Hai bên sẽ đàm phán để ký một Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa hai nước trên cơ sở đường biên giới hiện tại; quyết tâm xây dựng đường biên giới thành biên giới hoà bình, hữu nghị lâu dài giữa hai nước”.

Trong các năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, sau một thời gian đàm phán hữu nghị, khách quan, công bằng, Việt Nam và Campuchia đã ký một số Hiệp ước và Hiệp định về vấn đề biên giới giữa hai nước.

Về biên giới trên đất liền, Hiệp ước về nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Campuchia, ký ngày 20 - 7 - 1983, Điều 1 quy định:

“Trên đất liền, hai Bên coi đường biên giới hiện tại giữa hai nước được thể hiện trên bản đồ tỷ lệ 1/100.000 của Sở Địa dư Đông Dương (Service Géographique de l’Indochine), thông dụng trước năm 1954 hoặc gần năm 1954 nhất (kèm theo 26 mảnh bản đồ được hai Bên xác nhận), là đường biên giới giữa hai nước.

Ở nơi nào đường biên giới chưa được vẽ trên bản đồ, hoặc hai Bên đều thấy chưa hợp lý thì hai Bên sẽ cùng nhau bàn bạc giải quyết trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, vì lợi ích của mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Campuchia, phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế”.

Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Campuchia, ký ngày 27 - 12 - 1985, đã hoạch định toàn bộ đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Campuchia trên cơ sở tuân thủ nghiêm chỉnh nguyên tắc đã được quy định trong Hiệp ước năm 1983.

Nội dung hai Hiệp ước năm 1983 và 1985, nêu trên không chỉ phù hợp với thực tế khách quan về đường biên giới giữa Việt Namvà Campuchia, mà còn phù hợp với ý chí và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchia. Sau khi Hiệp định Paris về Campuchia được ký kết năm 1991, năm 1993, Quốc hội của Vương quốc Campuchia đã thông qua Hiến pháp mới, Điều 2 của Hiến pháp khẳng định: “ Toàn vẹn lãnh thổ Vương quốc Campuchia không thể bị vi phạm trong đường biên giới của mình đã được xác định trong bản đồ tỷ lệ 1/100.000, làm giữa những năm 1933 - 1953 và được quốc tế công nhận giữa những năm 1963 - 1969”. Đường biên giới của Vương quốc Campuchia mà Hiến pháp 1993 nêu ra phù hợp với nguyên tắc được quy định tại Điều 1 Hiệp ước 1983 và đã được cụ thể hoá trong Hiệp ước hoạch định biên giới trên bộ giữa Việt Nam và Campuchia năm 1985.

Phù hợp với quy định trong Hiến pháp của Vương quốc Campuchia, ngày 10 - 10 - 2005, nhân chuyến thăm hữu nghị chính thức Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Thủ tướng Chính phủ Hoàng gia Campuchia, Thủ tướng Chính phủ hai nước đã ký Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới năm 1985. Hiệp ước bổ sung đã được Quốc hội của Campuchia và Việt Nam phê chuẩn ngay sau đó. Hiệp ước bổ sung đã một lần nữa khẳng định giá trị pháp lý của đường biên giới được hoạch định năm 1985 và thúc đẩy quá trình phân giới, cắm mốc biên giới giữa hai nước trên thực địa.

Để đảm bảo việc phân giới, cắm mốc trên toàn tuyến biên giới đất liền hoàn tất chậm nhất vào cuối năm 2008, ngay sau khi Hiệp ước bổ sung có hiệu lực, chính phủ và các cơ quan chức năng của hai nước đã nỗ lực phối hợp và triển khai công tác chuẩn bị cho việc phân giới, cắm mốc. Ngày 7 - 9 - 2006, đại diện Chính phủ Việt Nam và Campuchia đã tiến hành khởi công xây dựng cột mốc quốc tế đầu tiên tại cửa khẩu Mộc Bài (Việt Nam) - Ba Vét (Campuchia) và lễ khánh thành cột mốc này đã được tổ chức ngày 27 - 9 - 2006, với sự tham dự của Thủ tướng Chính phủ và lãnh đạo cao cấp hai nước. Phát biểu tại lễ khánh thành, cả hai Thủ tướng đều nhấn mạnh ý nghĩa lịch sử của sự kiện này, coi đây là một bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác hữu nghị truyền thống giữa hai nước, đánh dấu sự khởi động lại quá trình phân giới, cắm mốc giữa hai nước nhằm xây dựng một đường biên giới hoà bình, ổn định, hữu nghị giữa hai nước.

Như vậy, khát vọng lâu đời của nhân dân Việt Namvà Campuchia về việc có đường biên giới hoà bình, hữu nghị và ổn định giữa hai nước (trong đó có đường biên giới giữa Nambộ của Việt Nam với Campuchia) đã trở thành hiện thực.

(Theo Lược sử vùng đất Nambộ,Hội khoa học lịch sử Việt Nam , Nxb Thế Giới năm 2006)

(1)   Raoul Marc JENNAR, Sđd, tr. 187 – 188.

(2)   Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.246.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.