Long Biên, ba vạn ngày có lẻ
Cũng có thể đứng trên sân thượng một toà nhà cao tầng mà thời mở cửa đang mọc lên như nấm ở kinh kỳ, ta sẽ thấy trong màn đêm huyền ảo xuất hiện 2 dải sáng chạy dài, hắt xuống dòng sông một sắc vàng tối lung linh. Đó là 2 chiếc cầu nối đôi bờ Hồng Hà của đất Thăng Long văn hiến. Cầu Chương Dương nằm về phía hạ lưu ngày đêm ầm ĩ người và xe qua lại. Chương Dương buổi đêm được tô điểm bởi hàng ngàn ngọn đèn xe loang loáng. Chếch về phía trên, lặng lẽ đến khiêm nhường, cầu Long Biên đã là “ông lão” đôn hậu. Dẫu có tuổi nhất trong làng cầu nước Việt nhưng Long Biên vẫn chưa chịu nghỉ ngơi, tháng năm còn nối hai bờ sông Hồng cho bao kiếp mưu sinh. Hơn thế nữa, “ông lão” Long Biên còn cõng thêm trên mình những toàn tàu trĩu nặng để từ hà Nội ta được tới Hải Phòng, Lạng Sơn, Yên Bái, Thái Nguyên, Lào Cai…
Năm 1898, hãng G. Eiffel sau những thắng lợi vang dội về công nghệ luyện thép với biểu tượng tháp Eiffel sừng sững giữa thủ đô Paris đã mạnh dạn thiết kế cây cầu bằng thép vắt qua sông Cái xứ An Nam. Tháng 9 năm đó, hãng Dayde – Pille bắt tay vào thi công. Đến năm 1902, cầu Long Biên với chiều dài 2560m, có tổng trị giá 6 triệu frăng thời giá bấy giờ, lần đầu tiên chinh phục sông Hồng. Có thể xem cầu Long Biên là sản phẩm của tinh hoa Pháp - Việt mặc dù nó được xây dựng theo chương trình khai thác thuộc địa của chế độ thực dân mà Toàn quyền Đông Dương lúc bấy giờ là Paul Doumer khởi xướng. Một cây cầu uy nghi, tầm cỡ được dựng hoàn toàn bằng thép với 19 nhịp, bắc qua 20 trụ, có chiều cao kể tử móng lên tới 40 m lần đầu tiên có ở nước ta. Những con ốc, bulông, những thanh tà vẹt, thép chữ I, chữ L, chữ V đã làm ngỡ ngàng người Tràng An thuở ấy. Thì cũng đúng thôi, đã bao đời, bao kiếp người dân mình chỉ biết làm ra củ sắn, củ khoai bằng những công cụ thô sơ, thuần tuý thì có đâu kỹ thuật, công nghệ để dựng cầu. Vả lại dân ta quen với kiểu giao thông đơn giản, như đò dọc, đò ngang, hay chăng chỉ cần cầu tre vắt vẻo, chằng chịt trên các rạch,s ông…
Long Biên lên “lão” khi hệ thống cầu hầu như đã phủ khắp chiều dài Tổ quốc. Với đất “Rồng bay” kể từ khi vua Lý Công Uẩn định đô thì tuổi của Long Biên thuộc hàng cháu chắt. Nhưng so với những Hàm Rôồg, Hiền Lương, Tràng Tiền… thì Long Biên phải là cây đại thụ. Trên 3 vạn ngày Long Biên dầm mưa, dãi nắng trụ vững đôi bờ Hồng Hà để Thăng Long, Hà Nội gần hơn với mọi miền xa. Cây cầu thép từng chịu hàng chục tấn bom Mỹ trong chiến tranh phá hoại, mang thương tích đầy mình nhưng chưa một lần gục ngã. Trái lại càng hiên ngang hơn khi ngày 4 – 3 – 1973, sau hiệp định Paris chỉ 40 ngày, chuyến xe lửa đầu tiên đã vượt sông Hồng trên Long Biên lừng lững. Và từ đây, Long Biên kiên cường, bất khuất lại ngày đêm soi mìnnh xuống bóng nước sông Hồng, bình yên, tươi đẹp.
Long Biên giờ đã là “cầu của người nghèo” (theo cách gọi của nhà báo Xuân Ba), nhưng không phải vì thế mà vắng vẻ, quạnh hiu. Tôi đã bách bộ mấy chiều trên 2 cây số mỗi chiều ấy và nhìn về phía hạ lưu. Dòng chảy kinh tế thị trường giục giã mọi người cần nhanh chóng hơn trên khắp mọi nẻo đường. Cuộc sống của người Hà Nội ngày một khá dần lên. Và sự ấm no đó được thể hiện trên cây cầu cách “người khổng lồ” già nua này non nửa cây số theo hướng chảy của sông. Những đoàn xe vù vù vụt qua Chương Dương với muôn ngàn ánh đèn lấp lánh như đánh thức cả Hà Nội giữa những đêm sắp vào tuổi 1000.
Có những buổi chiều đạp xe trên lối cầu thế kỷ để được nhìn hoàng hôn tắt trên sông. Một dải hồng hoang cứ vấn vương đôi bờ bồi, lở. Những dợn khói lam hồng từ những mái cọ dưới bóng cầu cuốn mình trong gió thu lồng lộng. Trước mắt tôi, sông Hồng với hai nhánh cứ cuộn chảy ngầu ngầu. Màu đỏ Hồng Hà chính là phù sa bồi đắp cho cả vùng châu thổ miền Bắc. Những vựa lúa phì nhiêu của mạn Hưng Yên, Hà Tây, Nam Hà, Thái Bình… đều do phù sa sông này bồi tụ. Và trong những buổi chiều sắp tắt đó, tôi kịp hiểu thêm bao số phận con người ngày ngày vẫn qua lại Long Biên.
![]() |
Đó là bác bán than già gồng mình đẩy xe than lên dốc. Vui chuyện bác tôi kể hay về Long Biên trong niềm tự hào của một người Hà Nội gốc. Bác tên gì tôi chẳng kịp ghi, chỉ biết 20 năm ròng bác kiếm sống bằng chiếc xe với bao thăng trầm của cuộc mưu sinh. Có ai không hiểu những hòn than cáu bẩn lại ẩn chứa trong mình nguồn năng lượng lớn lao. Và ai đó biết chăng, những chuyến xe trĩu nặng này đã ì ạch vượt sông từ rạng sáng đến mãi chiều tắt mới thong dong ngược cầu chính là ngọn lửa nhen ý chí kỳ diệu cho 2 con của bác nay đã thành kỹ sư. Các anh đang cống hiến tuổi trẻ và trí tuệ của mình cho thành phố thân thương. Theo bác, nhiều người Hà Nội giờ đây đã trở nên khá giả, họ nấu bếp bằng gaz, lò vi sóng hoặc mèng mèng bữa là bếp điện. Thế nhưng nguồn than cung cấp cho dân nội thành lại chưa bao giờ thừa cả. Bác nói chân tình với tôi: “Chú xem, Hà Nội mình vẫn còn bình dân ấy chứ”. Nghe câu nói chân thành của bác bán than, tôi chợt nghĩ đến những mảng khói đen bốc lên từ bao bếp than tổ ong của các gia đình bình dị ấy vẫn đang là một “nét” của thủ đô (?). Giống như khi qua cầu, Hà Nội đã có Thăng Long, Chương Dương xứng tầm thời đại rồi chứ, nhưng đó là của xe cơ giới, còn bao nhiêu chiếc xe đạp của thành phố này thì chỉ mỗi Long Biên.
Long Biên cũng thường ùn tắc vào mỗi sáng sớm. Từng hàng xe đan nhau đen kín lối cầu tạo nên những âm thanh muôn điệu. Là tiếng cót két của gánh rau trên vai chị nông dân Phú Thuỵ, của gánh hoa quả của các bà đến chợ từ mạn Đức Giang, Phố Nối… tiếng rên kin kít của thùng hàng sau giàn đèo xe đạp của các anh chị bánh mỳ. Tiếng lạo xạo líp xe của tốp học trò ngoại ô đến trường trong thành phố. Những âm thanh cứ réo rắt trong tôi để Long Biên trở thành yêu dấu.
Cũng có chiều tôi bạo dạn theo cầu thang sắt tìm xuống bãi giữa sông. Một cù lao chừng vài trăm mẫu được người Hà Thành trồng nên bao luống ngô, khoai. Độ chục mái nhà lợp cọ nhỏ bé nằm chênh vênh bên 2 nhánh sông Hồng. Đó là nơi tá túc của những con người gày ngày vẫn canh tác ở bãi giữa sông. Họ chăm chỉ làm việc. Những cọng bí, ngọn bầu đang bò lan khắp bãi như ngầm mách bảo với tôi như vậy. Thu nhập của họ cũng ít ỏi, chỉ là số tiền từ hạt bắp, mớ rau do tay mình vun xới mà nên. Họ đã quen với sự lặng im giữa chốn cù lao nổi. Với họ tất cả những gì gắn bó với Long Biên đều bình dị mà rất đỗi thân thương.
Tôi cũng đã theo chân mấy bà hàng hoa quả men dọc thân cầu xuôi mạn Gia Lâm. Chỉ một quãng cầu mà sao thấy khâm phục những người bà, người mẹ. Không biết các bà, các chị đã đi mòn mấy mươi đôi dép trên cầu Long Biên? Các bà đã thả xuống sông Hồng bao nhiêu vệt trầu uốm đỏ, để phù sa sông Hồng vốn đã đỏ lại quánh lên những ngày ngập lũ? Tất cả chỉ là sự ngớ ngẩn của một kẻ rỗi hơi như tôi khi rảo bước trên cầu. Nhưng cũng thật thú vị khi ta nghe một bà cụ bán hàng kể chuyện, bà nói chuyện với tôi trong nụ cười nhăn nhúm của tuổi 70: “Tôi qua cầu năm 14 tuổi. Chỉ nghe một thời gian đâu đó 5, 7 năm cầu bị đánh bom, đành phải đi đò hoặc phà ở tít bến Phà Đen. Sau Thống nhất, ngày nào tôi chả hai lần qua lại cầu Long Biên”. Cũng vui miệng, một chị bán hàng rong nhà ở Cầu Chui cho tôi hay, hàng ngày chị dậy đi chợ từ 3 giờ sáng, gồng gánh lên cầu đã 4, 5 giờ, tất tả sang Hà Nội, mua hàng ở chợ Long Biên lại rảo chân khắp phố phường để bán, khoảng tầm đầu bữa cơm tối mới quẩy gánh trở về. Trả lời câu hỏi của tôi về thu nhập hàng ngày, chị chỉ cười. Nụ cười thật hiền của những người lao động bình dân.
Chiều nay tôi lại một mình bên lan can cầu cũ, đăm chiêu về một phía sông Hồng. Hoàng hôn mờ dần ôm lấy Hồng Hà đục đỏ. Mấy mái cọ sờn vàng nằm lặng im dưới bóng cầu luống tuổi. Cả một bãi sông ăm ắp mầm xanh. Những chuyến xà lan bụng no tròn cát, lặng lẽ trôi theo sóng gió sông Hồng. Những câu chuyện râm ran của bao người Hà nội đang trên đường về với tổ ấm gia đình sau một ngày lao động. Những tà áo dài thướt tha của các cô học trò sau giờ tan lớp bay bay trong gió thu mát rượi như quấn lấy thành cầu. Tôi đưa mắt về phía nội thành để đắm mình trong ánh đèn của phố. Những toà nhà cao tầng mới mọc như nâng Hà Nội lên cao hơn hẳn. Và những dòng người đan vào nhau trên lối nhỏ cầu Long Biên đã tô thêm cho thành phố một nét riêng, duyên dáng, lạ kỳ. Có đoàn tàu băng qua. Chuyến xe lửa đi lên phía Bắc cồng kềnh và nặng xình xịch nhanh dần trên những dịp thép lắc lư. Hình như có ai ló đầu qua cửa sổ để được nhìn một chiều thu sắp buông man mác trên sông Hồng. Hà Nội đã vào thu và Thăng Long cận kề nghìn tuổi.









