Lợi ích kép từ sản xuất sạch hơn trong công nghiệp
Ngày 7/9/2009, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã ký Quyết định số 1419 phê duyệt “Chiến lược SXSH trong công nghiệp đến năm 2010 với mục tiêu phổ biến rộng rãi cách tiếp cận sản xuất này đến các cơ sở sản xuất công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, đồng thời hạn chế mức độ gây ô nhiễm của các cơ sở đến môi trường cũng như đảm bảo điều kiện làm việc cho công nhân và môi trường sống cho cộng đồng. Tại Thừa Thiên Huế, tuy mới triển khai chiến lược SXSH nhưng bước đầu đã có những mô hình hiệu quả.
Trong lĩnh vực sản xuất bia, giấy, xi măng, chế biến thủy sản, dệt may, sợi, giấy…, ứng dụng quy trình SXSH đã tạo ra một bước đột phá mới giúp DN tận thu các phế thải do nhà máy thải ra, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường cho cộng đồng dân cư. Tại Khu công nghiệp Phú Bài, nhiều DN đã ứng dụng thành công quy trình SXSH và mỗi năm đã thu lợi hàng tỷ đồng, như Nhà máy Bia Phú Bài, Công ty Cổ phần Vinh Phát, Công ty Cổ phần Sợi Phú Thạnh, Công ty Sơn Hoàng Gia, Công ty Dệt kim và May mặc Huế…
Thực tiễn từ Nhà máy Bia Phú Bài
Chúng tôi đến Nhà máy Bia Phú Bài thuộc Công ty TNHH Bia Huế, chứng kiến không khí sản xuất thật sôi động và khẩn trương. Đưa vào sản xuất từ tháng 2/2008 với công suất thiết kế ban đầu là 80 triệu lít/năm, đến nay công suất đã nâng lên thành 160 triệu lít/năm với các sản phẩm bia chai, bia lon, bia tươi và bia hơi; giải quyết việc làm cho trên 250 lao động. Để tiết kiệm năng lượng (TKNL), nguyên nhiên vật liệu và góp phần bảo vệ môi trường, tháng 3/2009 đơn vị đã đầu tư 5,5 tỷ đồng xây dựng hệ thống TKNL VRC. Đến tháng 5/2010 hệ thống TKNL được đưa vào vận hành và bước đầu đã thu được kết quả khả quan. Thông qua hệ thống này, mỗi mẻ bia, đơn vị sẽ tiết kiệm được dầu FO cho nồi hơi, điện năng tiêu thụ cho hệ thống nồi hơi, lưu lượng hơi khi nâng nhiệt và khí CO2 thải ra… Bằng hệ thống TKNL VRC, trung bình mỗi năm Nhà máy Bia Phú Bài sẽ tiết kiệm được 205.942kg dầu FO và 648.718 tấn CO2, tương đương với trên 1,5 tỷ đồng. Theo đó, chỉ sau hơn 3,6 năm, đơn vị sẽ hoàn được số vốn đầu tư ban đầu, trong khi đó hệ thống TKNL VRC có thể sử dụng lâu dài.
Bên cạnh hệ thống TKNL, Nhà máy Bia Phú Bài còn ứng dụng quy trình SXSH nhằm giúp DN nâng cao lợi thế cạnh tranh về chất lượng sản phẩm, giá thành, hình ảnh thương hiệu. Thông qua 4 giải pháp là kiểm tra chặt chẽ nguyên liệu nhập vào, điều chỉnh lại lượng gió hút bụi tại các máy sàng, chắn cửa hút gió trong máy sàng và thường xuyên điều chình lưu lượng gió hút bụi hợp lí cho các mẻ cân, từ lượng tiêu hao nguyên vật liệu theo bụi từ 160kg/mẻ vào tháng 12/2009 xuống còn 90kg/mẻ vào tháng 6/2010. Đối với khu vực nhà lên men, mỗi năm phát sinh ra môi trường một lượng chất thải gồm cặn men (có chứa bia) 2,4 triệu lít/năm; CO2 thoát ra trong quá trình lên men, 560.000kg/năm. Để giảm dòng thải, đơn vị đã đưa ra các giải pháp giảm lượng nước đuổi dịch và dịch đuổi nước trong quá trình nhận dịch, điều chỉnh lượng O2 cung cấp vào dịch cho phù hợp để tránh trào dịch, thay đổi lại quy trình xả men, chỉ xả 1 lần sau khi nhận dịch, 1 lần sau 2 ngày đạt -1C và 1 lần trước khi lọc 2 ngày. Chỉ riêng chất khô mà quy trình mang lại, đơn vị đã tiết kiệm được 0,44% tương ứng với 1,1 tỷ đồng.
Trước khi vận hành quy trình SXSH, Nhà máy Bia Phú Bài thường xuyên xảy ra tình trạng tổn thất tại khu vực chiết chai do số lượng chai vỡ chiếm rất lớn. Trong đó, qua thống kê có khoảng 70% khâu soi vỏ và máy soi (EBI), 10% do khâu soi bia sau thanh trùng và khoảng 20% là ở các khâu khác. Theo đó, lượng bia thất thoát hoặc bị mất trong khi chiết chai cũng rất lớn. Sau khi áp dụng quy trình SXSH từ tháng 1 đến 6/2010 tại phân xưởng chiết, tỷ lệ hao hụt vỏ bình quân trong thời gian đầu chỉ chiếm 0,7% tỷ lệ hao hụt bình quân tháng 1 là 0,5%. Riêng hai tháng 5 và 6/2010 sau khi cải tiến bằng quy trình SXSH, nhà máy đã tiết kiệm được gần 100 triệu đồng, tương đương với trên 600 triệu đồng/ năm.
Đến Sợi Phú Thạnh
Trong lĩnh vực sản xuất sợi và dệt may, bụi và tiếng ồn luôn là vấn đề nóng và là bài toán khó đối với các DN. Bởi, không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng sản xuất kinh doanh của đơn vị, bụi và tiếng ồn là nguyên nhân chính khiến nguồn lao động luôn thiếu hụt trầm trọng, ảnh hưởng đến quy trình sản xuất. Trước thực trạng đó, các doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư kinh phí trang thiết bị các quy trình SXSH nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, nâng cao hiệu suất kinh doanh cũng như mở rộng thị trường tiêu thụ.
Tại Công ty Cổ phần Sợi Phú Thạnh ở Khu công nghệp Phú Bài, mặc dù mới đưa vào sản xuất từ tháng 5/2008, song công ty đã mạnh dạn đầu tư gần 4 tỷ đồng trang bị hệ thống hút bụi để cải tạo môi trường làm việc cho người lao động. Hệ thống hút bụi được trang bị trên trần nhà xưởng có chức năng hút bụi và thải ra; các loại máy móc công nghệ cao được đầu tư ngay tại xưởng sản xuất sợi đã hạn chế tiếng ồn một cách tối ưu, giúp bảo vệ sức khỏe trực tiếp đến người lao động, đồng thời môi trường trong và ngoài nhà xưởng luôn trong lành và thoáng mát. Ông Nguyễn Văn Cường, giám đốc Công ty Cổ phần Sợi Phú Thạnh cho biết: “Trong điều kiện đối tác ngày càng khó tính, yêu cầu sản phẩm xuất khẩu phải được sản xuất từ một DN có giấy chứng nhận sản xuất sạch thì quy trình SXSH do đơn vị đầu tư có vai trò hết sức quan trọng. Không những có ưu điểm là bảo vệ môi trường, mở rộng thị trường mà quy trình SXSH còn giúp doanh nghiệp dễ dàng giữ chân người lao động trong thời điểm các DN đang thiếu lao động như hiện nay”.
Như vậy, thông qua các quy trình ứng dụng SXSH, nhiều DN trên địa bàn đã tiết kiệm hàng tỷ đồng, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, hiện con số DN trên địa bàn tham gia ứng dụng quy trình SXSH vẫn còn khiêm tốn dẫn đến phong trào SXSH chưa được triển khai đồng bộ và đạt nhiều kết quả như mong muốn.
Đến tháng 8/2009, Hợp phần CPI đã hỗ trợ 44 DN tại các tỉnh mục tiêu là Thái Nguyên, Phú Thọ, Nghệ An, Quảng Nam và Bến Tre thực hiện dự án SXSH. Theo đó, với tổng giá trị đầu tư 203 tỷ đồng, 44 DN có thể thu được gần 100 tỷ đồng mỗi năm, từ các giải pháp giảm tiêu thụ hàng chục nghìn tấn nguyên vật liệu, hàng triệu mét khối nước, khoảng 600 tấn hóa chất, 40 triệu tấn than và trên 3 triệu Kw điện.








