Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ bảy, 24/06/2006 00:34 (GMT+7)

Khổng Tử, Mạnh Tử và triết lý giáo dục

1. Khổng Tử(551 - 479, tr.CN), tên là Khổng Khâu, tự Trọng Ni, người nước Lỗ, Trung Quốc. Cha là võ quan nhỏ. Khổng Tử rất thông minh, ngay từ 15 tuổi đã ham học Lễ, 18 tuổi làm một chức quan nhỏ (chức lại: trông coi lương thực). Năm 50 tuổi, làm quan Tư khấu (tư pháp). Là người cương trực nên ông bị ghen ghét. Can vua không được, ông từ chức, du thuyết ở các nước láng giềng, mong tìm minh chúa để thực hiện ước mơ đem lại thái bình, thịnh trị cho thiên hạ. Sự nghiệp không thành (Tử Cống cho rằng đạo của Khổng Tử cao quá nên không ông vua nào, dùng được), ông quay về nước Lỗ, mở trường dạy học. Trường học của ông có chỗ học (đường), có chỗ ở (nội), một kiểu trường tư sớm nhất trong lịch sử giáo dục, thu nhận cả con em người nghèo với quan điểm “ Hữu giáo vôloại” (giáo dục không phân biệt hạng người). Trước đó chỉ có trường công dạy cho con em tầng lớp trên. Như vậy ông là người có công đầu giảm bớt sự bất bình đẳng trong giáo dục và điều đó cho đến nay vẫn cò ý nghĩa thời sự. Ông thu thập tài liệu từ cổ đại, biên soạn, san định thành 5 cuốn sách (Ngũ kinh): Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch và Kinh Xuân Thu. Sau đó, các học trò ghi chép, giải thích trong 4 cuốn sách (Tứ thư) là Luận Ngữ, Trung Dung, Mạnh Tử và Đại Học, các tập sách đó trở thành tài sản văn hóa, giáo dục quý giá. Ông đào tạo được trên 3.000 học trò, trong đó có “ thất thập nhị hiền” (72 hiền tài ), 4 người xuất chúng, sau được thờ cùng với thầy trong Khổng miếu, gọi là “ tử phối” gồm Mạnh Tử, Tăng Tử (Tăng Sâm), Tử Tư và Nhan Hồi.

Khổng Tử đã đúc kết và cố gắng thực hiện triết lý giáo dục độc đáo của mình với 2 nội dung cơ bản là “ Hình nhi thượng học” (phần lý luận chung, là cơ sở lý học của Nho Giáo) và “ Hình nhi hạ học” (những quan điểm triết lý nhân sinh). Ông coi việc học tập là cơ sở để mở mang trí tuệ và trau dồi đạo đức làm người, bất kể đó là thiên tử hay thứ nhân. Nội dung giáo dục tập trung vào chủ đề nhân đạo gồm 3 mối quan hệ lớn là “ tamcương”: vua - tôi, cha - con, vợ - chồng, và “ ngũ thường”: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, chia ra “ thập nghĩa” (mười điều nghĩa) phù hợp vị trí trong xã hội hay gia đình gồm: vua, tôi, cha, con, chồng, vợ, anh, em (anh, trưởng), lớn, (em, út) nhỏ. Học thuyết Khổng - Nho (Khổng Tử - Nho Giáo) thực chất là học thuyết chú trọng mặt đạo đức, tình cảm, ít đi vào lý trí. Phương pháp giáo dục của ông là kết hợp học và suy nghĩ; học đi đôi với hành; học tích cực, độc lập; biện pháp quan trọng là nêu gương, lấy nhân cách của mình (người thầy giáo) tác động đến học sinh. Yêu cầu chung trong giáo dục của ông là “ học khôngbiết mỏi, dạy không biết chán”. Là người học tập suốt đời, dạy học suốt đời, ông luôn yêu mến con người và tin rằng bản tính con người có thể cải hoá được nhờ giáo dục và tự giáo dục (tu nhân).

Đánh giá về Khổng Tử, nhà nghiên cứu Trung Quốc thời hiện đại Triệu Vĩ Bân cho rằng:

Khổng Tử căn bản là một nhà đại giáo dục… tuy nhiên vì quan niệm giai cấp và điều kiện lịch sử nên có những tư tưởng thể hiện không thống nhất trong nội dung giáo dục”. Còn học giả Nguyễn Hiến Lê, khi nghiên cứu Khổng Tử, đã mang ra một nhận định mang tính phổ quát: “ Triết thuyết nào cũng chỉ để cứu cái tệ một thời thôi. Muốn đánh giá một triết thuyết thì phải đặt nó vào thời của nó, xem nó có giải quyết được vấn đề của thời đó hay không, có là tiến bộ so với thời trước, là nguồn cảm hứng cho các đời sau không. Và sau mười thế hệ, người ta vẫn còn thấy nó làm cho đức trí con người được nâng lên thì phải coi đó là một cống hiến lớn cho nhân loại rồi”. Như thế đủ biết lý do Trung Quốc và nhiều quốc gia trên thế giới hiện đang lên “ cơn sốt” học tập, nghiên cứu Khổng Tử và chắc chắn mọi việc không dừng ở đó.

2. Mạnh Tử(372 - 289, tr.CN), tên là Mạnh Kha, tự là Tử Dư, người nước Trâu (trước đó là tên của nước Chu, nay là huyện Trâu, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc). Gia đình ông thuộc dòng dõi quý tộc nhưng đến đời cha ông thì sa sút. Ông được thừa hưởng việc “ thai giáo” (do mẹ giáo dục từ lúc mang thai) nên rất ham học hỏi, trí tuệ phát triển nhanh.

Ông không phải là học sinh trực tiếp của Khổng Tử mà là học sinh của Tử Tư. Nếu xác lập theo thứ tự thầy trò trực truyền thì sẽ là: Khổng Tử → Tăng Tử → Tử Tư → Mạnh Tử (trong đó Tăng Tử là người viết cuốn “ đại học”; Tử Tư, cháu nội của Khổng Tử, là người viết cuốn “ Trung dung”). Giống như Khổng Tử, Mạnh Tử cũng thực hiện du thuyết ở nhiều nước nhưng may mắn hơn Khổng Tử là nước nào qua ông cũng được vua nước ấy cung cấp lương thực và lộ phí. Ông là bậc thầy về giáo dục, đào tạo được nhiều học trò giỏi (tất nhiên không thể sánh được với Khổng Tử về mặt này).

Mạnh Tử là người thừa kế thuyết Nho giáo của Khổng Tử. Ông lấy chữ “ nhân” trong học thuyết Khổng Tử làm hạt nhân học thuyết của mình. Hầu hết quan điểm giáo dục của Khổng Tử đều được ông kiến giải, bổ sung nên ông được coi là môn đệ trung thành của Khổng Tử. Ông rất quan tâm đến môi trường giáo dục. Ông cho rằng giáo dục cần cho tất cả mọi người và mục đích đào tạo con người là phải đạt đến độ “ phú qúy bất năng dâm, bất tiện bất năng di , uy vũ bất năng khuất” (giàu không thể làm hư hỏng; nghèo không thể lay chuyển, sức mạnh không thể khuất phục). Trong việc học tập, ông đề cao suy nghĩ, khuyên không nên hoàn toàn tin vào sách vở. Ông coi con người như hạt mưa: vào giếng khơi thì thành nước trong, vào ao tù thì thành nước đục. Tuy nhiên, đó chính là chỗ hạn chế của ông vì con người không phải là hạt mưa vô tri vô giác.

Trong số các thế hệ học trò của Khổng Tử thì Mạnh Tử nổi tiếng nhất (ông cũng tạo được triết lý riêng của mình: Con người bản tính vốn thiện, giáo dục thường xuyên sẽ giúp bồi dưỡng tính thiện. Tuy nhiên, trước hết phải lo ổn định cuộc sống của nhân dân, sau đó mới giáo huấn đạo đức luân lý cho họ). Tư tưởng của ông có ảnh hưởng rất lớn trong xã hội nên người ta thường gọi ghép là triết lý Khổng - Mạnh. Có ý kiến còn cho ông là “ linh hồn của Nho gia”, còn dân chúng thì cho ông là thánh hiền, là bậc Á Thánh, chỉ đứng sau Khổng Tử (Thánh Khổng Tử ).

Các học trò của Khổng Tử, kể cả con người xuất chúng, khó có thể đạt tới tầm bậc thầy của Khổng Tử và thực tế họ đều không làm được những gì thầy mong mỏi (để trò có thể vượt thầy). Học trò giỏi Tử Cống dùng hình ảnh bức tường để so sánh: “ bức tường của Tử tôi ( và các môn sinh khác cũng vậy ) cao tới vai, nên người đứng ngoài vẫn nhìn thấy được những cái đẹp trong nhà. Bức tường của thầy tôi ( Khổng Tử ) cao mấynhận ( mỗinhận 7 - 8 thước, tức khoảng gần 2 mét ), nếu không qua được cửa mà vào thì không thấy những cái đẹp trong miếu kiến trúc các điện phong phú ra sao.

Nguồn: Thế Giới trong ta số 250, 2/2006

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW
Sáng 30/6, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ban biên tập vusta.vn trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị.
Một năm chính quyền địa phương hai cấp: Nhìn từ chiều sâu văn hóa làng xã
Một năm thực hiện chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là câu chuyện về tinh gọn bộ máy, tổ chức lại địa giới hành chính màcòn là phép thử về năng lực quản trị những giá trị mềm: tên làng, ký ức cộng đồng, di sản, thiết chế văn hóa, không gian tín ngưỡng và cảm giác thuộc về của người dân.
Hội nghị AFEO Midterm 2026
Ngày 30/6, tại Yangon, Myanmar, Liên đoàn các tổ chức kỹ sư ASEAN (AFEO) chính thức khai mạc phiên toàn thể Hội nghị giữa kỳ lần thứ 25. Đây là diễn đàn thường niên được tổ chức nhằm để các nhà khoa học, các kỹ sư, các chuyên gia cùng chia sẻ, thảo luận các giải pháp trong việc xây dựng một tương lai bền vững cho khu vực ASEAN.
Lào Cai: 118 hộ đồng bào dân tộc thiểu số hưởng lợi từ mô hình cấp nước tự quản
Sau gần một năm triển khai, Dự án “Hỗ trợ nước sinh hoạt cải thiện chất lượng cuộc sống cho cộng đồng dân tộc thiểu số thôn 4, xã Khánh Hòa, tỉnh Lào Cai” do Trung tâm Hỗ trợ phát triển bền vững cộng đồng các dân tộc miền núi (SUDECOM) thực hiện đã hoàn thành mục tiêu, đánh dấu một mô hình điểm về quản lý, vận hành hệ thống cấp nước dựa vào cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống cho 118 hộ dân.