Khoa học Dược đến năm 2020
Để có một thuốc mới, đưa được vào cuộc sống, có thể khái quát phân định theo 3 nhóm tác động sau đây:
- Nhóm thủ tục: luật lệ, quy chế, quản lý.
- Nhóm thực hiện: theo dây chuyền tuần tự từ nghiên cứu cơ bản, phát minh – nghiên cứu và triển khai - sản xuất – kê đơn, phân phối đến sử dụng, điều trị.
- Nhóm nhân lực: đào tạo, nâng cao tay nghề.
Trong đó, phải nhấn mạnh sự cần thiết chuyển giao kết quả từ khoa học vào thực tiễn. Khoa học Dược được nói ở đây có liên quan tới cả 3 nhóm nêu trên và được bàn luận, xem xét dưới góc nhìn hiện đại do mỗi nhóm có rất nhiều vấn đề. Sẽ không đề cập tới các bộ môn truyền thống trong nhà trường mà cần phải biết khoa học Dược tương lai sẽ hướng tới đâu đối với 3 nhóm tác động nêu trên.
Để thực hiện việc này, từ năm 2007, Ban Khoa học Dược thuộc Liên đoàn Dược Quốc tế (FIP) đã khoanh 3 vòng thu thập tư liệu: vòng trong là các nhà khoa học; vòng giữa là các doanh nghiệp dược và vòng ngoài là bác sĩ và người tiêu dùng; chuẩn bị tài liệu gửi cho các nhà khoa học, các đối tượng khác nhau; tổ chức các cuộc họp bàn tròn và cuối cùng đã tổ chức hội nghị tổng kết từ ngày 1 đến 3.10.2008 ở Amsterdam (Hà Lan).
Xuất phát từ mô hình bệnh tật, các diễn biến về bảo vệ sức khoẻ, những bệnh nan giải có chiều hướng gia tăng… các nhà khoa học đã đề ra hướng chính là phải tấn công vào sinh học. Những vấn đề về di truyền học (chủ yếu là RNA, DNA), miễn dịch học, phối hợp thuốc, lờn thuốc… được chú trọng.
Cũng trên con người nhưng phải mở rộng nhóm đối tượng: nghiên cứu thực tế trên trẻ em, phụ nữ có thai, người cao tuổi, người có nhóm gen khác nhau. Tránh lạm dụng kỹ thuật cao như máy tính để mô phỏng và dự đoán dược động học, độc học.
Việc nghiên cứu tế bào gốc và công nghệ nuôi ghép mô là hướng triển vọng để tạo ra thuốc tái tạo (regenerative medicine) chữa các bệnh ung thư, tâm thần, suy giảm miễn dịch… Với việc phát minh những sản phẩm này sẽ phải sàng lọc lại các chủng loại thuốc cũ, thay đổi cách mô phỏng tác dụng của thuốc và do đó diện mạo của điều trị bằng thuốc và của công nghiệp dược cũng sẽ thay đổi.
Việc nghiên cứu dẫn thuốc tới nơi cần tác động sẽ được công nghệ nano tạo ra dạng bào chế, hỗ trợ để có thể giám sát tác động của thuốc, xác định hiệu quả/tác hại hay tính phù hợp của thuốc, giúp cho việc nghiên cứu độ an toàn, hiệu quả được chính xác hơn.
Qua nhiều vấn đề phức tạp của khoa học Dược với ý nghĩa và phạm vi nêu trên, kể cả vấn đề đầu tư, giá thành và khủng hoảng tài chính xảy ra gần đây, Ban Khoa học Dược của FIP đã đưa ra tóm tắt các hướng phát triển của khoa học Dược đến năm 2020 như sau:
- Sinh học và Công nghiệp sẽ kết hợp thành nền công nghệ sinh học. Sinh học càng phát triển bao nhiêu thì công nghiệp lại cần phải đáp ứng cao bấy nhiêu. Công nghệ sinh học sẽ tạo ra ngày một nhiều những sản phẩm mới để phục vụ cho điều trị và chiếm ưu thế.
- Những yêu cầu mới như công nghệ nano, công nghệ tế bào, cá nhân hoá thuốc… đòi hỏi cán bộ y tế phải được đào tạo lại.
- Con đường làm ăn kiếm lãi truyền thống của các doanh nghiệp dược cần thay đổi theo hướng không đặt lợi nhuận là mục đích cuối cùng mà phải tìm cách phối hợp, kết nối các giai đoạn, quá trình khác nhau trong quá trình làm ra sản phẩm mới, có sự phối hợp đầu tư giữa Nhà nước – tư nhân, giữa nghiên cứu với sản xuất, giữa liên doanh/hợp doanh với gia công; giữa phân công thử lâm sàng, kiểm nghiệm, sản xuất thuốc generic của công ty lớn với các công ty nhỏ…
- Các công ty đa quốc gia sẽ mua công nghệ/ý đồ sản xuất thuốc mới từ các doanh nghiệp hoặc các cơ sở nghiên cứu và sẽ điều hành sự phát triển này. Những công đoạn chủ yếu được gia công ở những cơ sở có chuyên môn cao.
- Thuốc cổ truyền tuy chưa được chứng minh đầy đủ về tính an toàn, hiệu quả, chất lượng, nhưng được dùng lâu đời nên vẫn cần nghiên cứu, đi sâu vào phát triển vì nó có nhiều triển vọng. Việc chứng minh tác dụng, nghiên cứu tính an toàn, hiệu quả và chất lượng của thuốc cổ truyền cần tiếp tục đẩy mạnh.
- Những tiến bộ về khoa học kỹ thuật như tế bào học, tin học, vật liệu học… đòi hỏi phải thay đổi chương trình đào tạo, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ y tế.
- Cơ quan quản lý cần theo kịp đà phát triển, tăng cường tính minh bạch; hệ thống cảnh giác thuốc; đánh giá được hiệu quả, tác dụng có hại của các thuốc mới.
- Hỗ trợ các nước có nhu cầu và khả năng phát triển công nghệ mới như Trung Quốc và Ấn Độ.
Mô hình phát triển cho khoa học dược trong tương lai phải căn cứ theo định hướng phát triển của ngành dược. Khi ngành dược đã chuyển sang định hướng chăm sóc sức khoẻ toàn diện nghĩa là bắt đầu từ phòng bệnh và kết thúc bằng những thuốc và vật phẩm thời trang, thì sản phẩm của khoa học cũng phải đi theo hướng: Chất chẩn đoán - Thuốc, dụng cụ thiết bị cho phòng bệnh, chữa bệnh - Thuốc “mốt” thời trang. Một thí dụ điển hình của sự kết hợp đó là stent nong động mạch. Bản thân stent đã thực hiện chức năng cơ học là nong, nó lại còn được tẩm thuốc tiết dần statin chống xơ vữa và giám sát cholesterol. Tuy nhiên, việc tiếp tục nghiên cứu các thuốc phân tử nhỏ như hoá dược, kháng sinh, thuốc sinh học tương tự… vẫn cần duy trì và phát triển.
Về vấn đề kinh tế, để giảm giá thành nghiên cứu có thể kể đến vai trò phân công trong toàn cầu hoá, giảm chi phí trong các khâu tiếp thị, phân phối; tránh trùng lặp và sử dụng sớm các số liệu tiền lâm sàng, lâm sàng trước khi thử; hợp lý hoá các yêu cầu của cơ quan quản lý; kết hợp công và tư; sự phối hợp của các tổ chức xã hội, phi chính phủ với các đơn vị nghiên cứu và doanh nghiệp.








