Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 05/11/2007 23:13 (GMT+7)

Kho tàng của quân Mông Cổ

Quân số, thuyền chiến và lương thực của Mông Cổ trong chiến tranh xâm lược lần thứ ba

Sau khi nghiên cứu so sánh, kiểm tra lại các tài liệu trong các quyển sử đáng tin cậy như Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT), Nguyên Sử, Khâm Định Việt sử thông giám cương mục (KĐVSTGCM), Đại Việt sử ký tiền biên (ĐVSKTB) của Ngô Thì Sĩ, Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XII của Hà Văn Tấn - Nguyễn Thị Tâm….

Có thể đưa ra quân số, lương thực, thuyền bè của quân Mông Cổ như sau: Quân số trên dưới 100.000 gồm cả lính bộ binh và thuỷ binh (từ 90.000 đến 120.000).

Thuyền gồm 500 chiếc chiến thuyền và 70 thuyền lương (có thể con số thuyền lên tới 620 đến 650 chiếc).

Lương thực 170.000 thạch (hộc) lương, lượng lương thực mang theo đủ dùng cho 100.000 người trong vòng từ 5 đến 6 tháng nếu tính trung bình mỗi quân nhân ăn một ngày hơn ½ kg gạo (500 đến 650 gram) chưa kể 200 gram thức ăn mỗi ngày.

Bản đồ Đại Việt thời Minh Mạng

Bản đồ Đại Việt thời Minh Mạng

Riêng dưới quyền của Ô Mã Nhi điều động là 15.000 đến 18.000 thuỷ binh với 500 chiến thuyền như vậy trên mỗi thuyền chiến trung bình có từ 30 đến 40 quân nhân.

Trọng tải của chiến thuyền có thể từ 20 đến 60 tấn chiều dài khoảng 12 đến 14m.

Thuyền lương của Trương Văn Hổ có trọng tải từ 170 đến 200 tấn chiều dài từ 14 đến 18, 20 m, ngang 6 đến 8 m, có thể có 6 đến 8 thuỷ đoàn và 10 quân nhân đi theo hộ tống.

Từ nghiên cứu này có thể suy ra vóc dáng và vận tốc chiến thuyền của Ô Mã Nhi và thuyền lương Trương Văn Hổ.

Qua chiến thắng của Trần Khánh Dư trong quá khứ có thể hình dung được diện mạo chiến thuyền của Trần Khánh Dư và nghệ thuật tác chiến của ông khi cho áp sát với thuyền lương của địch.

Toạ độ trận hải chiến Vân Đồn

Toạ độ trận hải chiến Vân Đồn

Thuyền chiến của Trần Khánh Dư có thể có trọng tải nhẹ hơn thuyền chiến của Ô Mã Nhi vì nó không cần mang theo nhiều lương thực vì lương thực đã được dự trữ ở trong các đảo trong quần đảo VânĐồn hoặc trong đất liền, vóc dáng thuyền nhỏ hơn có thể từ 12 chiều dài trở xuống, quân số tác chiến trên thuyền có thể tương đương hay có khi ít hơn chỉ khoảng 25 đến 30 thuỷ binh. Nhưng cái lợi màTrần Khánh Dư muốn có là chạy nhanh hơn, tác chiến và xoay xở dễ dàng hơn.

Lợi thế trong các trận thuỷ chiến thường nghiêng về phía có tốc độ của chiến thuyền cao hơn ngoài kỹ thuật tác chiến.

Vịnh Bắc Bộ đầu xuân

Thoát Hoan khởi binh vào trung tuần tháng 11 âm lịch nghĩa là vào cuối đông, đầu xuân. Ô Mã Nhi rời khỏi Khâm Châu vào ngày 12 tháng 11 âm lịch (17 tháng 12 năm 1287).

Trương Văn Hổ khởi hành vào ngày 30 tháng 12 năm 1287, nhằm vào tiết lập xuân nghĩa là sau Ô Mã Nhi gần 2 tuần lễ. Trận hải chiến của Trần Khánh Dư diệt các thuyền lương của Trương Văn Hổ có thể xảy ra trong khoảng ngày 3 tháng 1 năm 1288 cho đến 6 tháng 1 năm 1288 tức là khoảng 3 đến 4 ngày sau.

Nhận định về thời tiết mùa xuân trên biển đông thì vua Lê Thánh Tông đã cho đục trên một vách núi Truyền Đăng một câu như sau: “Quang Thuận cửu niên, xuân nhị nguyệt, Dư thân xuất lục quân, thí vũ vu Bạch Đằng giang thượng, Thị nhật phong hoà cảnh lệ, hải bất dương ba, nãi phiếm Hoàng Hải…” (Mùa xuân tháng 2 năm Quang Thuận thứ chín, ta đem sáu quân diễn võ trên sông Bạch Đằng, ngày này gió lặng, cảnh đẹp, biển êm, ta dung thuyền dạo chơi trên biển Hoàng Hải).

Chúa Trịnh Cương cũng có nhận xét về thời tiết mùa xuân ở đây tương tự như vậy qua lời khắc trên vách núi Bài Thơ: Dư chính chu lâm vu đông minh lãm đảo dữ chi như hoạ … (Ta ngồi trên chiến thuyền ra biển đông, ta thấy núi đẹp như vẽ, biển yên lặng…).

Thường thì thời tiết mùa xuân trên vịnh Bắc bộ biển êm, không bão, ít sóng nhưng tầm nhìn xa bị hạn chế vì sương mù do các đợt rét từ Trung Hoa thổi xuống, các đợt sương mù dày đặc vào lúc sáng sớm sẽ tan dần vào giữa trưa là yếu tố rất thuận lợi cho Trần Khánh Dư tập kích toán thuyền lương, chúng sẽ đi cùng với nhau ở cự ly không quá xa vì có thể bị lạc trong sương mù, sự co cụm của các thuyền lương là cơ hội ngàn vàng cho việc tấn công.

Huyền thoại núi Truyền Đăng, hang Dấu Gỗ (Đầu Gỗ), lễ hội Đình Quan Lạn là âm bản của cuộc hải chiến Vân Đồn.

Khi Trần Hưng Đạo cho Trần Khánh Dư chức vụ phó tướng, đặc biệt là phụ trách vùng biên giới hải đảo có lẽ ông đã tin tưởng, cân nhắc cẩn thận quyết định này, điều này có thể thấy rõ trong việc Trần Hưng Đạo đã rất trân trọng việc khi đưa cho Trần Khánh Dư viết lời tựa trong một tác phẩm nổi tiếng nhất của ông về binh pháp, đó là Vạn Kiếp tông bí tuyền thư (ĐVSKTT trang 84).

Chắc chắn Khánh Dư phải biết rõ ngọn nguồn của vùng vịnh Bắc bộ nhất là vùng quần đảo Vân Đồn, Cô Tô, Cát Bà và cửa sông Bạch Đằng, ông phải nghiên cứu con đường đi của các thương thuyền, con đường mà các thuyền chiến của Ô Mã Nhi mới đi qua cách đó 10 ngày để lập kế hoạch tấn công.

Ở trên Vịnh Hạ Long có một ngọn núi cao nhất vùng này gọi là núi Truyền Đăng, cao 106 m, còn gọi là núi Rọi Đèn cho mãi đến năm 1468 nhân khi vua Lê Thánh Tông đề thơ trên vách núi thì người ta mới gọi là núi Bài Thơ. Núi có ba chóp dựng cao lên, không đều nhau, chân núi một nửa ngâm dưới mặt nước vịnh, đứng trên đỉnh núi vào những ngày trời tốt có thể nhìn thấy sông Bạch Đằng và cả vùng Vịnh Hạ Long bao la, ở trên đỉnh núi có một vọng gác tiền tiêu trông chừng ra mặt biển, để báo động cho đất liền. Khi trông thấy thuyền giặc ngoài khơi, người ta đốt một đống củi chất sẵn, có trộn phân chó sói cho khói sậm màu. Khói bốc cao, và đốm lửa sáng bừng lên cách xa hàng trăm dặm vẫn trông thấy, đó là cách cấp báo nhanh nhất, có lẽ Trần Khánh Dư đã học được cách này khi đặt một vọng gác ở Mũi Ngọc và trên các đảo Vinh Thực, Chàng Tây, Hòn Đèn, Hòn Bày Sao, Hòn Vành, Ba Mùn, Cô Tô, Quan Lạn, Thượng Mai, Hạ Mai, Đầu Bê, Long Châu, Cát Bà, Đồ Sơn, Đảo Cống…. để theo dõi mọi hoạt động, sự di chuyển đoàn chiến thuyền của Ô Mã Nhi và thuyền lương của Trương Văn Hổ, từ bộ chỉ huy tại Vân Đồn. Trần Khánh Dư có những yếu tố cụ thể để điều động tác chiến.

Chiến thuật tấn công của Trần Khánh Dư

ĐVSKTT chép: Thuỷ quân Nguyên đánh vào Vân Đồn… Khánh Dư liệu biết quân giặc đã qua, thuyền vận tải tất theo sau, nên thu thập tàn binh đợi chúng. Chẳng bao lâu thuyền vận tải quả nhiên đến, Khánh Dư đánh bại chúng.

Trong khi đó, Khâm Định Việt Sử thông giám cương mục chép: Khi đi đến biển Lục Thuỷ, thuyền của quân Nguyên bị mắc cạn, sa lầy, không chở đi được, lương thực chìm cả xuống biển.

Trong Nguyên Sử, q 209 An Nam truyện chép: “Đến biển Lục Thuỷ thuyền giặc thêm nhiều, liệu không để địch nổi mà thuyền lại nặng không thể đi được nên đổ thóc xuống biển rồi đi Quỳnh Châu”.

Hải trình thuyền lương của Trương Văn Hồ và địa điểm tấn công của Trần Khánh Dư trong trận đánh Vân Đồn năm 1288

Hải trình thuyền lương của Trương Văn Hồ và địa điểm tấn công của Trần Khánh Dư trong trận đánh Vân Đồn năm 1288

Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII chép: Thuỷ quân ta vẫn tập kích thuyền giặc ở Vân Đồn (Vân Hải), Trương Văn hổ cố gắng tiến về phía đất liền nhưng đến Cửa Lục, Hòn Gaithì thuyền quân ta đổ ra đánh càng đông. Trương Văn Hổ đại bại, đổ cả thóc xuống (biển).

Trong các tài liệu được trích dẫn thì có các yếu tố cần được lưu ý: Lịch sử Trung Quốc cho rằng trận hải chiến xảy ra ở biển Lục Thuỷ, nói như thế là cách mô tả tổng quát vì vùng biển này nói chung là Lục Thuỷ, nhưng khi nói là tại Vân Đồn hay Cửa Lục – Hòn Gai thì rõ ràng là toạ độ được xác định chi tiết hơn. Ở đây có một chi tiết là các thuyền lương của Trương Văn Hổ bị mắc cạn, sa lầy nặng, không thể đi được. Như thế thì vùng nào ở biển Lục Thuỷ có đặc tính quá nông để thuyền lương mắc cạn?

Khảo sát độ sâu của đáy biển vùng Hạ Long nhất là vùng Cửu Lục, ở đó có độ sâu trên 20 m, hiện tại các tàu có trọng tải lớn ra vào thường xuyên cho nên nghĩ rằng trận đánh xảy ra tại Cửa Lục thì e rằng khó vì không phù hợp với chi tiết mắc cạn.

Người ta biết rằng trên biển Lục Thuỷ có những bãi cát bồi tương ứng có thể làm thuyền mắc cạn nếu hoa tiêu không phải là dân địa phương như ở mé bãi nhà Mạc cửa sông Bạch Đằng, mặt phía đất liền của đảo Tuần Châu, còn ở quần đảo Vân Đồn thì bãi cát bồi khoảng giữa đảo Cái Bàn và đảo Quan Lạn càng ngày càng lớn ra do sự thay đổi dòng chảy, có lẽ thương cảng cổ của quần đảo Vân Đồn được hình thành xây cất đầu tiên trên đảo Cái Bàn nhưng về sau vì bãi cát bồi này mà nó được chuyển sang đảo Quan Lạn, do đó cho rằng trận hải chiến xảy ra ở Vân Đồn là có nhiều khả năng nhất.

Trong quần đảo Vân Đồn thì trận hải chiến này nằm ở đâu? đó mới là vấn đề của nghiên cứu này.

Dùng đối chiếu, so sánh để loại bỏ những vùng ít khả năng như vùng Vịnh Cửa Lục, Cửa Lục, vùng Vịnh Hạ Long, vùng cửa sông Bạch Đằng (cửa Nam Triệu) vùng đảo Cát Bà – Long Châu, vùng từ đảo Đầu Bê hướng về hang Dấu Gỗ… ta có thể ước đoán được vị trí của xác các thuyền lương của Trương Văn Hổ.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.