Kho tàng của quân Mông Cổ
Quân số, thuyền chiến và lương thực của Mông Cổ trong chiến tranh xâm lược lần thứ ba
Sau khi nghiên cứu so sánh, kiểm tra lại các tài liệu trong các quyển sử đáng tin cậy như Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT), Nguyên Sử, Khâm Định Việt sử thông giám cương mục (KĐVSTGCM), Đại Việt sử ký tiền biên (ĐVSKTB) của Ngô Thì Sĩ, Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XII của Hà Văn Tấn - Nguyễn Thị Tâm….
Có thể đưa ra quân số, lương thực, thuyền bè của quân Mông Cổ như sau: Quân số trên dưới 100.000 gồm cả lính bộ binh và thuỷ binh (từ 90.000 đến 120.000).
Thuyền gồm 500 chiếc chiến thuyền và 70 thuyền lương (có thể con số thuyền lên tới 620 đến 650 chiếc).
Lương thực 170.000 thạch (hộc) lương, lượng lương thực mang theo đủ dùng cho 100.000 người trong vòng từ 5 đến 6 tháng nếu tính trung bình mỗi quân nhân ăn một ngày hơn ½ kg gạo (500 đến 650 gram) chưa kể 200 gram thức ăn mỗi ngày.
![]() |
Bản đồ Đại Việt thời Minh Mạng |
Trọng tải của chiến thuyền có thể từ 20 đến 60 tấn chiều dài khoảng 12 đến 14m.
Thuyền lương của Trương Văn Hổ có trọng tải từ 170 đến 200 tấn chiều dài từ 14 đến 18, 20 m, ngang 6 đến 8 m, có thể có 6 đến 8 thuỷ đoàn và 10 quân nhân đi theo hộ tống.
Từ nghiên cứu này có thể suy ra vóc dáng và vận tốc chiến thuyền của Ô Mã Nhi và thuyền lương Trương Văn Hổ.
Qua chiến thắng của Trần Khánh Dư trong quá khứ có thể hình dung được diện mạo chiến thuyền của Trần Khánh Dư và nghệ thuật tác chiến của ông khi cho áp sát với thuyền lương của địch.
![]() |
Toạ độ trận hải chiến Vân Đồn |
Lợi thế trong các trận thuỷ chiến thường nghiêng về phía có tốc độ của chiến thuyền cao hơn ngoài kỹ thuật tác chiến.
Vịnh Bắc Bộ đầu xuân
Thoát Hoan khởi binh vào trung tuần tháng 11 âm lịch nghĩa là vào cuối đông, đầu xuân. Ô Mã Nhi rời khỏi Khâm Châu vào ngày 12 tháng 11 âm lịch (17 tháng 12 năm 1287).
Trương Văn Hổ khởi hành vào ngày 30 tháng 12 năm 1287, nhằm vào tiết lập xuân nghĩa là sau Ô Mã Nhi gần 2 tuần lễ. Trận hải chiến của Trần Khánh Dư diệt các thuyền lương của Trương Văn Hổ có thể xảy ra trong khoảng ngày 3 tháng 1 năm 1288 cho đến 6 tháng 1 năm 1288 tức là khoảng 3 đến 4 ngày sau.
Nhận định về thời tiết mùa xuân trên biển đông thì vua Lê Thánh Tông đã cho đục trên một vách núi Truyền Đăng một câu như sau: “Quang Thuận cửu niên, xuân nhị nguyệt, Dư thân xuất lục quân, thí vũ vu Bạch Đằng giang thượng, Thị nhật phong hoà cảnh lệ, hải bất dương ba, nãi phiếm Hoàng Hải…” (Mùa xuân tháng 2 năm Quang Thuận thứ chín, ta đem sáu quân diễn võ trên sông Bạch Đằng, ngày này gió lặng, cảnh đẹp, biển êm, ta dung thuyền dạo chơi trên biển Hoàng Hải).
Chúa Trịnh Cương cũng có nhận xét về thời tiết mùa xuân ở đây tương tự như vậy qua lời khắc trên vách núi Bài Thơ: Dư chính chu lâm vu đông minh lãm đảo dữ chi như hoạ … (Ta ngồi trên chiến thuyền ra biển đông, ta thấy núi đẹp như vẽ, biển yên lặng…).
Thường thì thời tiết mùa xuân trên vịnh Bắc bộ biển êm, không bão, ít sóng nhưng tầm nhìn xa bị hạn chế vì sương mù do các đợt rét từ Trung Hoa thổi xuống, các đợt sương mù dày đặc vào lúc sáng sớm sẽ tan dần vào giữa trưa là yếu tố rất thuận lợi cho Trần Khánh Dư tập kích toán thuyền lương, chúng sẽ đi cùng với nhau ở cự ly không quá xa vì có thể bị lạc trong sương mù, sự co cụm của các thuyền lương là cơ hội ngàn vàng cho việc tấn công.
Huyền thoại núi Truyền Đăng, hang Dấu Gỗ (Đầu Gỗ), lễ hội Đình Quan Lạn là âm bản của cuộc hải chiến Vân Đồn.
Khi Trần Hưng Đạo cho Trần Khánh Dư chức vụ phó tướng, đặc biệt là phụ trách vùng biên giới hải đảo có lẽ ông đã tin tưởng, cân nhắc cẩn thận quyết định này, điều này có thể thấy rõ trong việc Trần Hưng Đạo đã rất trân trọng việc khi đưa cho Trần Khánh Dư viết lời tựa trong một tác phẩm nổi tiếng nhất của ông về binh pháp, đó là Vạn Kiếp tông bí tuyền thư (ĐVSKTT trang 84).
Chắc chắn Khánh Dư phải biết rõ ngọn nguồn của vùng vịnh Bắc bộ nhất là vùng quần đảo Vân Đồn, Cô Tô, Cát Bà và cửa sông Bạch Đằng, ông phải nghiên cứu con đường đi của các thương thuyền, con đường mà các thuyền chiến của Ô Mã Nhi mới đi qua cách đó 10 ngày để lập kế hoạch tấn công.
Ở trên Vịnh Hạ Long có một ngọn núi cao nhất vùng này gọi là núi Truyền Đăng, cao 106 m, còn gọi là núi Rọi Đèn cho mãi đến năm 1468 nhân khi vua Lê Thánh Tông đề thơ trên vách núi thì người ta mới gọi là núi Bài Thơ. Núi có ba chóp dựng cao lên, không đều nhau, chân núi một nửa ngâm dưới mặt nước vịnh, đứng trên đỉnh núi vào những ngày trời tốt có thể nhìn thấy sông Bạch Đằng và cả vùng Vịnh Hạ Long bao la, ở trên đỉnh núi có một vọng gác tiền tiêu trông chừng ra mặt biển, để báo động cho đất liền. Khi trông thấy thuyền giặc ngoài khơi, người ta đốt một đống củi chất sẵn, có trộn phân chó sói cho khói sậm màu. Khói bốc cao, và đốm lửa sáng bừng lên cách xa hàng trăm dặm vẫn trông thấy, đó là cách cấp báo nhanh nhất, có lẽ Trần Khánh Dư đã học được cách này khi đặt một vọng gác ở Mũi Ngọc và trên các đảo Vinh Thực, Chàng Tây, Hòn Đèn, Hòn Bày Sao, Hòn Vành, Ba Mùn, Cô Tô, Quan Lạn, Thượng Mai, Hạ Mai, Đầu Bê, Long Châu, Cát Bà, Đồ Sơn, Đảo Cống…. để theo dõi mọi hoạt động, sự di chuyển đoàn chiến thuyền của Ô Mã Nhi và thuyền lương của Trương Văn Hổ, từ bộ chỉ huy tại Vân Đồn. Trần Khánh Dư có những yếu tố cụ thể để điều động tác chiến.
Chiến thuật tấn công của Trần Khánh Dư
ĐVSKTT chép: Thuỷ quân Nguyên đánh vào Vân Đồn… Khánh Dư liệu biết quân giặc đã qua, thuyền vận tải tất theo sau, nên thu thập tàn binh đợi chúng. Chẳng bao lâu thuyền vận tải quả nhiên đến, Khánh Dư đánh bại chúng.
Trong khi đó, Khâm Định Việt Sử thông giám cương mục chép: Khi đi đến biển Lục Thuỷ, thuyền của quân Nguyên bị mắc cạn, sa lầy, không chở đi được, lương thực chìm cả xuống biển.
Trong Nguyên Sử, q 209 An Nam truyện chép: “Đến biển Lục Thuỷ thuyền giặc thêm nhiều, liệu không để địch nổi mà thuyền lại nặng không thể đi được nên đổ thóc xuống biển rồi đi Quỳnh Châu”.
![]() |
Hải trình thuyền lương của Trương Văn Hồ và địa điểm tấn công của Trần Khánh Dư trong trận đánh Vân Đồn năm 1288 |
Trong các tài liệu được trích dẫn thì có các yếu tố cần được lưu ý: Lịch sử Trung Quốc cho rằng trận hải chiến xảy ra ở biển Lục Thuỷ, nói như thế là cách mô tả tổng quát vì vùng biển này nói chung là Lục Thuỷ, nhưng khi nói là tại Vân Đồn hay Cửa Lục – Hòn Gai thì rõ ràng là toạ độ được xác định chi tiết hơn. Ở đây có một chi tiết là các thuyền lương của Trương Văn Hổ bị mắc cạn, sa lầy nặng, không thể đi được. Như thế thì vùng nào ở biển Lục Thuỷ có đặc tính quá nông để thuyền lương mắc cạn?
Khảo sát độ sâu của đáy biển vùng Hạ Long nhất là vùng Cửu Lục, ở đó có độ sâu trên 20 m, hiện tại các tàu có trọng tải lớn ra vào thường xuyên cho nên nghĩ rằng trận đánh xảy ra tại Cửa Lục thì e rằng khó vì không phù hợp với chi tiết mắc cạn.
Người ta biết rằng trên biển Lục Thuỷ có những bãi cát bồi tương ứng có thể làm thuyền mắc cạn nếu hoa tiêu không phải là dân địa phương như ở mé bãi nhà Mạc cửa sông Bạch Đằng, mặt phía đất liền của đảo Tuần Châu, còn ở quần đảo Vân Đồn thì bãi cát bồi khoảng giữa đảo Cái Bàn và đảo Quan Lạn càng ngày càng lớn ra do sự thay đổi dòng chảy, có lẽ thương cảng cổ của quần đảo Vân Đồn được hình thành xây cất đầu tiên trên đảo Cái Bàn nhưng về sau vì bãi cát bồi này mà nó được chuyển sang đảo Quan Lạn, do đó cho rằng trận hải chiến xảy ra ở Vân Đồn là có nhiều khả năng nhất.
Trong quần đảo Vân Đồn thì trận hải chiến này nằm ở đâu? đó mới là vấn đề của nghiên cứu này.
Dùng đối chiếu, so sánh để loại bỏ những vùng ít khả năng như vùng Vịnh Cửa Lục, Cửa Lục, vùng Vịnh Hạ Long, vùng cửa sông Bạch Đằng (cửa Nam Triệu) vùng đảo Cát Bà – Long Châu, vùng từ đảo Đầu Bê hướng về hang Dấu Gỗ… ta có thể ước đoán được vị trí của xác các thuyền lương của Trương Văn Hổ.











