Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 01/11/2010 21:14 (GMT+7)

Khai thác nước dưới đất và một số biện pháp bảo vệ nguồn nước dưới đất ở Hà Nội

Tổng lưu lượng của tất cả các loại hình khai thác (gồm khai thác công nghiệp tập trung của công ty cấp nước, khai thác lẻ của các cơ quan, xí nghiệp và khai thác nhỏ quy mô gia đình) hiện nay đã xấp xỉ 800.000m 3/ngày. Trong đó, công ty kinh doanh nước sạch Hà Nội đang khai thác và quản lý 22 nhà máy và trạm cấp nước, với tổng số 177 giếng khoan công nghiệp, lưu lượng khai thác khoảng 500.000m 3/ngày. Các giếng quy mô công nghiệp, khai thác lẻ do các cơ quan xí nghiệp, các đơn vị đóng trên địa bàn Thành phố xây dựng để cấp nước và các trạm cấp nước tập trung ở khu vực nông thôn ngoại ô Thành phố có trên dưới 500 giếng, khai thác khoảng trên 200.000m 3/ngày. Còn lại là các giếng khai thác nhỏ lẻ kiểu UNICEF do các hộ gia đình hoặc cơ quan xí nghiệp khai thác với số lượng gần 70.000 giếng, khai thác từ 100.000 đến 140.000m 3/ngày

Mặc dù công ty kinh doanh nước sạch Hà Nội đã liên tục được đầu tư để nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới các nhà máy nước, nhưng do tỷ lệ thất thoát nước còn quá cao và nhu cầu nước ngày càng lớn nên nhiều khu vực thuộc nội thành và một số thị trấn tập trung đông dân cư của Hà Nội vẫn còn tình trạng thiếu nước sinh hoạt, sản xuất, hoặc chưa hoàn thiện hệ thống cấp nước của thành phố. Vì vậy, tại các khu vực này, khai thác nước dưới đất chủ yếu là tự xây dựng hệ thống cấp nước vẫn rất phổ biến.

Hà Nội đã có quy hoạch cấp nước đến năm 2010 và định hướng phát triển đến năm 2020 (được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 50/2000/QĐ-TTg. Theo quy hoạch này, tiêu chuẩn cấp nước sinh hoạt năm 2005 là 170lít/người/ngày và đến năm 2020 là 190 lít/người/ngày. Theo đó nhu cầu cấp nước của Thành phố Hà Nội năm 2005 là 852.000m 3/ngày, đến năm 2010 là 1.046.000m 3/ngày, và đến năm 2020 là 1.419.000m 3/ngày. Cũng theo quy hoạch này, hệ thống cấp nước sạch nông thôn không lấy từ hệ thống cấp nước của thành phố, dự kiến đến năm 2010 sẽ đầu tư xây dựng 60 trạm cấp nước nông thôn mỗi trạm có công suất từ 500 - 1.700 m 3/ngày.

Trong quy hoạch, nguồn nước thô cấp cho hệ thống cấp nước Thành phố Hà Nội là nguồn nước dưới đất và nguồn nước mặt. Trong đó, dự kiến đến năm 2010 tổng công suất khai thác nước dưới đất ở phía Nam sông Hồng là khoảng 700.000m 3/ngày; ở phía Bắc sông Hồng là khoảng 140.000m 3/ngày; và khai thác nguồn nước mặt trên sông Hồng hoặc sông Đà là khoảng 500.000m 3/ngày.

Để đạt được mục tiêu cấp nước đến năm 2010 và đến năm 2020, ngoài dự án khả thi khai thác nước mặt, khai thác nước dưới đất, vẫn sẽ tiếp tục được duy trì, phát triển và đóng vai trò chủ yếu cho cấp nước ở Hà Nội.

Về chất lượng nước dưới đất ở khu vực Hà Nội không chỉ phong phú về số lượng, thuận tiện mà khai thác mà còn còn có chất lượng tốt, đã được kiểm nghiệm qua việc khai thác sử dụng của người Pháp và nhân dân Thủ đô từ hàng trăm năm nay.

Điều kiện địa chất thuỷ văn khu vực Hà Nội đã được nghiên cứu khá chi tiết và có nhiều công trình công bố trong thời gian qua. Từ các kết quả nghiên cứu cho thấy trong vùng Hà Nội tồn tại hai tầng chứa nước chủ yếu với đặc điểm chính như sau:

Tầng chứa nước Holocen (tầng trên) có diện tích phân bổ rộng khắp trong vùng, trừ một số khu vực ở phần phía bắc và phía tây Hà Nội, tầng này bị bào mòn nên diện tích phân bố không liên tục, còn hầu hết diện tích ở trung tâm và phía đông, phái nam Hà Nội là phân bổ liên tục. Thành phần thạch học chủ yếu của tầng chứa nước này là cát, cát pha, sét pha với độ sâu phân bố từ khoảng 16 - 25m chiều dày thay đổi từ 0 -15,5m trung bình 14,0m. Mực nước tĩnh thay đổi từ 0,5 - 4m. Lưu lượng các lỗ khoan thay đổi từ 0,4 - 29,0 l/s, trung bình 7 - 8 l/s. Trị số hạ thấp mực nước giao động từ 1,12 - 8,08m, trung bình 2,9m. Tỉ lưu lượng lõ khoan giao động từ 0,08 - 20,9l/s.m, trung bình 3,11/s.m. Hệ số dẫn nước thay đổi trong một phạm vi rộng từ 20 - 1788m 2/ngày trung bình 432m 2/ngày.

Nước có độ khoáng hoá nhỏ, dao động từ 0,1 - 0,5g/lít, loại hình hoá học chủ yếu của nước trong tầng này là Bicacbonat - Clorua, thành phần vi trùng trong tầng chứa nước này nhìn chung ít, trừ một số nơi nước của tầng bị ô nhiễm bởi các hợp chất nitơ và vi sinh do các hoạt động của con người. Trữ lượng nước dưới đất trong tầng chứa nước Holocen không lớn, nhưng có thể cung cấp nước với quy mô nhỏ cho ăn uống và sinh hoạt. Các giếng khoan khai thác nhỏ kiểu UNICEF là dạng công trình khai thác chủ yếu đối với tầng chứa này.

Tầng chứa nước Pleistocen (tầng dưới) có diện tích phân bố rộng khắp ở vùng Hà Nội, chỉ trừ một diện tích nhỏ trên địa bàn huyện Sóc Sơn. Thành phần thạch học chủ yếu của tầng này gồm cát, sạn, cuội sỏi với bề dày thay đổi trong phạm vi khá lớn từ 9,97 - 30,8m ở phía bắc đến 35 - 45m, có nơi trên 60m ở phía Nam. Mực nước thay đổi từ 2,0 - 4,0m vào mùa khô và 0 - 1,0m vào mùa mưa. Lưu lượng các lỗ khoan thay đổi từ 1,9 đến trên 50l/s. Trị số hạ thấp mực nước thay đổi từ 1,28 đến 8,61m; tỷ lưu lượng thay đổi từ 0,32 - 4,49l/s.m; có nơi trên 5l/s.m. Hệ số dẫn nước thay đổi tuỳ theo từng khu vực cụ thể (ở khu vực phía bắc hệ số này thay đổi từ 400 - 1.600m 2/ngày; ở Sóc Sơn thay đổi từ 260 - 700m 2/ngày; khu vực phía Nam thay đổi từ 1000 - 1500m 2/ngày. Nước dưới đất trong tầng Pleistocen có chất lượng nước nhìn chung tốt, loại hình hoá học chủ yếu là Bicacbonat - canxi, Bicacbonat - natri, độ khoáng hoá thay đổi từ 0,15 - 0,25g/l; hàm lượng các vi nguyên tố phần lớn đều dưới tiêu chuẩn cho phép đối với mục đích ăn uống, sinh hoạt, trừ hàm lượng sắt và mangan cao do bản chất nguồn nước, cần xử lý trước khi sử dụng (hàm lượng sắt biến đổi trong phạm vi 2,4mg/l - 26,24mg/l; hàm lượng mangan thay đổi từ 0,1 - 1,15mg/l).

Tuy nhiên, với sự tăng nhanh về quy mô và phạm vi khai thác, cùng với ảnh hưởng của quá trình sản xuất, phát triển kinh tế và đô thị hóa mạnh mẽ của Thủ đô Hà Nội trong khoảng hơn 1 thập niên trở lại đây đã làm cho nước dưới đất ở khu vực Hà Nội có dấu hiệu suy giảm cả về số lượng và chất lượng.

Theo các tài liệu quan trắc động thái nước dưới đất ở vùng Hà Nội cho thấy, diện tích phễu hạ thấp mức nước của toàn khu vực có xu hướng ngày một lan rộng. Mực nước hạ thấp lớn tập trung chủ yếu ở các bãi giếng đang khai thác, trong đó mực nước hạ thấp tạo thành cãc trũng lớn nằm ở khu vực các bãi giếng Hạ Đình, Tương Mai, Ngô Sỹ Liên, Mai Dịch (sâu nhất đạt tới 32m tại bãi giếng phải giảm lưu lượng khai thác so với thiết kế như các bãi giếng Hạ Đình, Tương Mai, Pháp Vân, Ngọc Hà, Mai Dịch, Ngô Sỹ Liên). Theo đánh giá của các nhà chuyên môn thì nguyên nhân của sự hạ thấp mực nước tại các giếng khai thác ở các bãi giếng này chủ yếu liên quan đến việc bố trí bãi giếng, bố trí khoảng cách giữa các giếng và kết cấu giếng không hợp lý chứ không phải do nguồn nước bị cạn kiệt hay khai thác quá mức.

Về chất lượng nguồn nước dưới đất, theo kết quả điều tra nghiên cứu gần đây đặc biệt kết quả thực hiện các đề án thăm dò, đánh giá nguồn nước dưới đất phục vụ cấp nước cho thấy hiện tượng nhiễm bẩn nước dưới đất bởi các hợp chất nitơ (NO -2NO -3; NH +4) là khá phổ biến ở nhiều khu vực như tại các giếng Tương Mai, Hạ Đình, Nam Dư, Gia Lâm, Đại Kim, Định Công, Linh Đàm, Khương Trung, trong đó khu vực Nam Hà Nội là phổ biến nhất. Kết quả thực hiện một số dự án điều tra hiện trạng nhiễm bẩn Asen trong nguồn nước ở dưới đất ở vùng Hà Nội trong vài năm qua cũng cho thấy, nước dưới đất ở cả hai tầng chứa nước đều đã có dấu hiệu nhiễm bẩn Asen, một yếu tố độc hại đối với sức khoẻ con người. Ở hầu hết các khu vực trên địa bàn Hà Nội, tầng chứa nước Holocen đều bị nhiễm bẩn vi sinh ở các mức độ khác nhau, trong đó các khu vực phía Nam Hà Nội, khu vực gần bãi rác thải, nước thải sinh hoạt, nghĩa trang, khu chế biến thực phẩm là nhiễm bẩn nặng nề nhất (ở khu vực nghĩa trang Văn Điển, hàm lượng Coliform trên 660.000MPN/100ml). Một số khu vực gần bãi rác Tam Hiệp, Mễ Trì, Bồ Đề, nước dưới đất có dấu hiệu ô nhiễm cả về kim loại nặng (như Pb, Hg, Cd…) và vi trùng.

Nguyên nhân dẫn đến nhiễm bẩn nước dưới đất tầng Pleistocen bởi các hợp chất nitơ hoặc thành phần Asen là vấn đề đang còn nhiều tranh luận và cần phải được tiếp tục nghiên cứu thêm, nhưng một điều chắc chắn rằng với hiện trạng khai thác nước dưới đất, hiện trạng xả chất thải, nước thải, hiện trạng khoan đào xây dựng công trình diễn ra ở Hà Nội trong nhiều năm qua là những nguyên nhân chính, trực tiếp làm nhiễm bẩn tầng chứa nước Holocen, gián tiếp làm nhiễm bẩn nước dưới đất, tầng Pleistoncen và gây nguy cơ nhiễm bẩn nguồn nước dưới đất nói chung ở vùng Hà Nội. Tuy vậy, những điều tra nghiên cứu gần đây nhất về hiện trạng nhiễm Asen trong nguồn nước dưới đất ở khu vực Hà Nội do Cục Quản lý tài nguyên nước thực hiện cho thấy thành phần Asen trong nguồn nước thô được xử lý gần như triệt để sau khi đi qua hệ thống xử lý sắt.

Một số biện pháp bảo vệ nguồn nước dưới đất ở khu vực Hà Nội:

Trong quy hoạch cấp nước cho thành phố Hà Nội đến năm 2010 và định hướng phát triển đến năm 2020, nguồn nước cung cấp cho thành phố vẫn chủ yếu lấy từ nguồn nước dưới đất. Vì vậy, để bảo vệ nguồn nước dưới đất nhằm cung cấp nước lâu dài, bền vững và an toàn cho Thủ đô cần có một số chiến lược về khai thác, quản lý, bảo vệ nguồn nước dưới đất. Cụ thể:

Phải đánh giá lại nguồn nước dưới đất của toàn vùng, xác định trữ lượng có khả năng khai thác được, trên cơ sở đó bố trí, quy hoạch lại hệ thống các công trình khai thác một cách phù hợp.

Xây dựng mới hoặc mở rộng các bãi giếng khai thác dọc theo Sông Hồng, Sông Đuống (như khu vực Thượng Cát, Chèm, Đông Anh, Gia Lâm), các vùng xa ngoại ô thành phố và vùng lân cận; đồng thời giảm lưu lượng khai thác ở các bãi giếng nằm trong thành phố, khu vực mực nước hạ thấp lớn (như Hạ Đình, Tương Mai, Ngọc Hà, Mai Dịch).

Hạn chế dần và không mở mới công trình khai thác trong khu vực nội thành, đặc biệt cần loại bỏ loại hình giếng khai thác kiểu UNICEF trong khu vực nội thành; tăng cường xây dựng các trạm cấp nước tập trung ở khu vực các quận, huyện, ngoại thành để thay thế dần kiểu khai thác nhỏ lẻ.

Cần có kế hoạch xử lý, trám lấp toàn bộ các giếng hỏng, giếng bị huỷ bỏ, giếng không đủ chất lượng trong khu vực thành phố.

Xây dựng đới bảo vệ trong khu vực các bãi giếng đang khai thác.

Tăng cường công tác kiểm soát, giám sát việc thải chất thải, nước thải, nhất là đối với các loại nước thải độc hại tại các cơ sở sản xuất trong thành phố và tại các khu vực gần công trình khai thác nước.

Hạn chế hoặc không cho phép khoan các giếng khoan nông trong khu vực thành phố, tăng cường xây dựng các trạm cấp nước tập trung cho các khu vực thuộc thị trấn, nơi tập trung đông dân cư để thay thế, dần dần tiến tới huỷ bỏ các giếng khoan nhỏ lẻ.

Kiểm soát chặt chẽ việc khoan khảo sát địa chất công trình, thi công xây dựng công trình trong khu vực thành phố, hạn chế việc sử dụng chất phụ gia khi xử lý nền móng các công trình xây dựng.

Và cuối cùng cần tăng cường hơn nữa công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước ở Thành phố Hà Nội.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

5 nhà khoa học của Liên hiệp Hội Việt Nam được tôn vinh “Nhà khoa học của Nhà nông” năm 2026
Sáng 2/10/2026, tại Hà Nội, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tổ chức Chương trình tôn vinh “Nhà khoa học của Nhà nông” lần thứ VII và trao giải Cuộc thi “Sáng tạo kỹ thuật Nhà nông” toàn quốc lần thứ XI năm 2026. Trong số 42 cá nhân được tôn vinh năm nay có 5 nhà khoa học do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam giới thiệu.
Thanh Hoá: Kinh tế tuần hoàn, tín chỉ Carbon và mô hình sản xuất không phát thải
Ngày 30/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội) phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Hồng Đức và Viện Nông nghiệp Thanh Hóa tổ chức Diễn đàn khoa học với chủ đề “Kinh tế tuần hoàn và tín chỉ Carbon - Phương pháp xây dựng mô hình sản xuất không phát thải tại Thanh Hóa”.
Đắk Lắk: Phát huy nguồn lực trí thức, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tỉnh
Trong giai đoạn 2026-2030, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) là yêu cầu quan trọng để Đắk Lắk khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế và các nguồn lực cho phát triển. Cùng với KHCN và CĐS, ĐMST cần được nhìn nhận không chỉ là hoạt động của các viện, trường hay doanh nghiệp công nghệ, mà là một phương thức tổ chức nguồn lực để giải quyết những bài toán phát triển cụ thể của địa phương.
Phú Thọ: Tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại xã Lạc Sơn
Ngày 25/9/2026, tại xã Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng (MACDI) cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức chương trình tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
Đại hội Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lần thứ VIII: GS.TS Nguyễn Văn Kim được bầu làm Chủ tịch
Ngày 30/9/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Hội; GS.TS Nguyễn Văn Kim được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.
Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.