Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 01/11/2010 21:14 (GMT+7)

Khai thác nước dưới đất và một số biện pháp bảo vệ nguồn nước dưới đất ở Hà Nội

Tổng lưu lượng của tất cả các loại hình khai thác (gồm khai thác công nghiệp tập trung của công ty cấp nước, khai thác lẻ của các cơ quan, xí nghiệp và khai thác nhỏ quy mô gia đình) hiện nay đã xấp xỉ 800.000m 3/ngày. Trong đó, công ty kinh doanh nước sạch Hà Nội đang khai thác và quản lý 22 nhà máy và trạm cấp nước, với tổng số 177 giếng khoan công nghiệp, lưu lượng khai thác khoảng 500.000m 3/ngày. Các giếng quy mô công nghiệp, khai thác lẻ do các cơ quan xí nghiệp, các đơn vị đóng trên địa bàn Thành phố xây dựng để cấp nước và các trạm cấp nước tập trung ở khu vực nông thôn ngoại ô Thành phố có trên dưới 500 giếng, khai thác khoảng trên 200.000m 3/ngày. Còn lại là các giếng khai thác nhỏ lẻ kiểu UNICEF do các hộ gia đình hoặc cơ quan xí nghiệp khai thác với số lượng gần 70.000 giếng, khai thác từ 100.000 đến 140.000m 3/ngày

Mặc dù công ty kinh doanh nước sạch Hà Nội đã liên tục được đầu tư để nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới các nhà máy nước, nhưng do tỷ lệ thất thoát nước còn quá cao và nhu cầu nước ngày càng lớn nên nhiều khu vực thuộc nội thành và một số thị trấn tập trung đông dân cư của Hà Nội vẫn còn tình trạng thiếu nước sinh hoạt, sản xuất, hoặc chưa hoàn thiện hệ thống cấp nước của thành phố. Vì vậy, tại các khu vực này, khai thác nước dưới đất chủ yếu là tự xây dựng hệ thống cấp nước vẫn rất phổ biến.

Hà Nội đã có quy hoạch cấp nước đến năm 2010 và định hướng phát triển đến năm 2020 (được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 50/2000/QĐ-TTg. Theo quy hoạch này, tiêu chuẩn cấp nước sinh hoạt năm 2005 là 170lít/người/ngày và đến năm 2020 là 190 lít/người/ngày. Theo đó nhu cầu cấp nước của Thành phố Hà Nội năm 2005 là 852.000m 3/ngày, đến năm 2010 là 1.046.000m 3/ngày, và đến năm 2020 là 1.419.000m 3/ngày. Cũng theo quy hoạch này, hệ thống cấp nước sạch nông thôn không lấy từ hệ thống cấp nước của thành phố, dự kiến đến năm 2010 sẽ đầu tư xây dựng 60 trạm cấp nước nông thôn mỗi trạm có công suất từ 500 - 1.700 m 3/ngày.

Trong quy hoạch, nguồn nước thô cấp cho hệ thống cấp nước Thành phố Hà Nội là nguồn nước dưới đất và nguồn nước mặt. Trong đó, dự kiến đến năm 2010 tổng công suất khai thác nước dưới đất ở phía Nam sông Hồng là khoảng 700.000m 3/ngày; ở phía Bắc sông Hồng là khoảng 140.000m 3/ngày; và khai thác nguồn nước mặt trên sông Hồng hoặc sông Đà là khoảng 500.000m 3/ngày.

Để đạt được mục tiêu cấp nước đến năm 2010 và đến năm 2020, ngoài dự án khả thi khai thác nước mặt, khai thác nước dưới đất, vẫn sẽ tiếp tục được duy trì, phát triển và đóng vai trò chủ yếu cho cấp nước ở Hà Nội.

Về chất lượng nước dưới đất ở khu vực Hà Nội không chỉ phong phú về số lượng, thuận tiện mà khai thác mà còn còn có chất lượng tốt, đã được kiểm nghiệm qua việc khai thác sử dụng của người Pháp và nhân dân Thủ đô từ hàng trăm năm nay.

Điều kiện địa chất thuỷ văn khu vực Hà Nội đã được nghiên cứu khá chi tiết và có nhiều công trình công bố trong thời gian qua. Từ các kết quả nghiên cứu cho thấy trong vùng Hà Nội tồn tại hai tầng chứa nước chủ yếu với đặc điểm chính như sau:

Tầng chứa nước Holocen (tầng trên) có diện tích phân bổ rộng khắp trong vùng, trừ một số khu vực ở phần phía bắc và phía tây Hà Nội, tầng này bị bào mòn nên diện tích phân bố không liên tục, còn hầu hết diện tích ở trung tâm và phía đông, phái nam Hà Nội là phân bổ liên tục. Thành phần thạch học chủ yếu của tầng chứa nước này là cát, cát pha, sét pha với độ sâu phân bố từ khoảng 16 - 25m chiều dày thay đổi từ 0 -15,5m trung bình 14,0m. Mực nước tĩnh thay đổi từ 0,5 - 4m. Lưu lượng các lỗ khoan thay đổi từ 0,4 - 29,0 l/s, trung bình 7 - 8 l/s. Trị số hạ thấp mực nước giao động từ 1,12 - 8,08m, trung bình 2,9m. Tỉ lưu lượng lõ khoan giao động từ 0,08 - 20,9l/s.m, trung bình 3,11/s.m. Hệ số dẫn nước thay đổi trong một phạm vi rộng từ 20 - 1788m 2/ngày trung bình 432m 2/ngày.

Nước có độ khoáng hoá nhỏ, dao động từ 0,1 - 0,5g/lít, loại hình hoá học chủ yếu của nước trong tầng này là Bicacbonat - Clorua, thành phần vi trùng trong tầng chứa nước này nhìn chung ít, trừ một số nơi nước của tầng bị ô nhiễm bởi các hợp chất nitơ và vi sinh do các hoạt động của con người. Trữ lượng nước dưới đất trong tầng chứa nước Holocen không lớn, nhưng có thể cung cấp nước với quy mô nhỏ cho ăn uống và sinh hoạt. Các giếng khoan khai thác nhỏ kiểu UNICEF là dạng công trình khai thác chủ yếu đối với tầng chứa này.

Tầng chứa nước Pleistocen (tầng dưới) có diện tích phân bố rộng khắp ở vùng Hà Nội, chỉ trừ một diện tích nhỏ trên địa bàn huyện Sóc Sơn. Thành phần thạch học chủ yếu của tầng này gồm cát, sạn, cuội sỏi với bề dày thay đổi trong phạm vi khá lớn từ 9,97 - 30,8m ở phía bắc đến 35 - 45m, có nơi trên 60m ở phía Nam. Mực nước thay đổi từ 2,0 - 4,0m vào mùa khô và 0 - 1,0m vào mùa mưa. Lưu lượng các lỗ khoan thay đổi từ 1,9 đến trên 50l/s. Trị số hạ thấp mực nước thay đổi từ 1,28 đến 8,61m; tỷ lưu lượng thay đổi từ 0,32 - 4,49l/s.m; có nơi trên 5l/s.m. Hệ số dẫn nước thay đổi tuỳ theo từng khu vực cụ thể (ở khu vực phía bắc hệ số này thay đổi từ 400 - 1.600m 2/ngày; ở Sóc Sơn thay đổi từ 260 - 700m 2/ngày; khu vực phía Nam thay đổi từ 1000 - 1500m 2/ngày. Nước dưới đất trong tầng Pleistocen có chất lượng nước nhìn chung tốt, loại hình hoá học chủ yếu là Bicacbonat - canxi, Bicacbonat - natri, độ khoáng hoá thay đổi từ 0,15 - 0,25g/l; hàm lượng các vi nguyên tố phần lớn đều dưới tiêu chuẩn cho phép đối với mục đích ăn uống, sinh hoạt, trừ hàm lượng sắt và mangan cao do bản chất nguồn nước, cần xử lý trước khi sử dụng (hàm lượng sắt biến đổi trong phạm vi 2,4mg/l - 26,24mg/l; hàm lượng mangan thay đổi từ 0,1 - 1,15mg/l).

Tuy nhiên, với sự tăng nhanh về quy mô và phạm vi khai thác, cùng với ảnh hưởng của quá trình sản xuất, phát triển kinh tế và đô thị hóa mạnh mẽ của Thủ đô Hà Nội trong khoảng hơn 1 thập niên trở lại đây đã làm cho nước dưới đất ở khu vực Hà Nội có dấu hiệu suy giảm cả về số lượng và chất lượng.

Theo các tài liệu quan trắc động thái nước dưới đất ở vùng Hà Nội cho thấy, diện tích phễu hạ thấp mức nước của toàn khu vực có xu hướng ngày một lan rộng. Mực nước hạ thấp lớn tập trung chủ yếu ở các bãi giếng đang khai thác, trong đó mực nước hạ thấp tạo thành cãc trũng lớn nằm ở khu vực các bãi giếng Hạ Đình, Tương Mai, Ngô Sỹ Liên, Mai Dịch (sâu nhất đạt tới 32m tại bãi giếng phải giảm lưu lượng khai thác so với thiết kế như các bãi giếng Hạ Đình, Tương Mai, Pháp Vân, Ngọc Hà, Mai Dịch, Ngô Sỹ Liên). Theo đánh giá của các nhà chuyên môn thì nguyên nhân của sự hạ thấp mực nước tại các giếng khai thác ở các bãi giếng này chủ yếu liên quan đến việc bố trí bãi giếng, bố trí khoảng cách giữa các giếng và kết cấu giếng không hợp lý chứ không phải do nguồn nước bị cạn kiệt hay khai thác quá mức.

Về chất lượng nguồn nước dưới đất, theo kết quả điều tra nghiên cứu gần đây đặc biệt kết quả thực hiện các đề án thăm dò, đánh giá nguồn nước dưới đất phục vụ cấp nước cho thấy hiện tượng nhiễm bẩn nước dưới đất bởi các hợp chất nitơ (NO -2NO -3; NH +4) là khá phổ biến ở nhiều khu vực như tại các giếng Tương Mai, Hạ Đình, Nam Dư, Gia Lâm, Đại Kim, Định Công, Linh Đàm, Khương Trung, trong đó khu vực Nam Hà Nội là phổ biến nhất. Kết quả thực hiện một số dự án điều tra hiện trạng nhiễm bẩn Asen trong nguồn nước ở dưới đất ở vùng Hà Nội trong vài năm qua cũng cho thấy, nước dưới đất ở cả hai tầng chứa nước đều đã có dấu hiệu nhiễm bẩn Asen, một yếu tố độc hại đối với sức khoẻ con người. Ở hầu hết các khu vực trên địa bàn Hà Nội, tầng chứa nước Holocen đều bị nhiễm bẩn vi sinh ở các mức độ khác nhau, trong đó các khu vực phía Nam Hà Nội, khu vực gần bãi rác thải, nước thải sinh hoạt, nghĩa trang, khu chế biến thực phẩm là nhiễm bẩn nặng nề nhất (ở khu vực nghĩa trang Văn Điển, hàm lượng Coliform trên 660.000MPN/100ml). Một số khu vực gần bãi rác Tam Hiệp, Mễ Trì, Bồ Đề, nước dưới đất có dấu hiệu ô nhiễm cả về kim loại nặng (như Pb, Hg, Cd…) và vi trùng.

Nguyên nhân dẫn đến nhiễm bẩn nước dưới đất tầng Pleistocen bởi các hợp chất nitơ hoặc thành phần Asen là vấn đề đang còn nhiều tranh luận và cần phải được tiếp tục nghiên cứu thêm, nhưng một điều chắc chắn rằng với hiện trạng khai thác nước dưới đất, hiện trạng xả chất thải, nước thải, hiện trạng khoan đào xây dựng công trình diễn ra ở Hà Nội trong nhiều năm qua là những nguyên nhân chính, trực tiếp làm nhiễm bẩn tầng chứa nước Holocen, gián tiếp làm nhiễm bẩn nước dưới đất, tầng Pleistoncen và gây nguy cơ nhiễm bẩn nguồn nước dưới đất nói chung ở vùng Hà Nội. Tuy vậy, những điều tra nghiên cứu gần đây nhất về hiện trạng nhiễm Asen trong nguồn nước dưới đất ở khu vực Hà Nội do Cục Quản lý tài nguyên nước thực hiện cho thấy thành phần Asen trong nguồn nước thô được xử lý gần như triệt để sau khi đi qua hệ thống xử lý sắt.

Một số biện pháp bảo vệ nguồn nước dưới đất ở khu vực Hà Nội:

Trong quy hoạch cấp nước cho thành phố Hà Nội đến năm 2010 và định hướng phát triển đến năm 2020, nguồn nước cung cấp cho thành phố vẫn chủ yếu lấy từ nguồn nước dưới đất. Vì vậy, để bảo vệ nguồn nước dưới đất nhằm cung cấp nước lâu dài, bền vững và an toàn cho Thủ đô cần có một số chiến lược về khai thác, quản lý, bảo vệ nguồn nước dưới đất. Cụ thể:

Phải đánh giá lại nguồn nước dưới đất của toàn vùng, xác định trữ lượng có khả năng khai thác được, trên cơ sở đó bố trí, quy hoạch lại hệ thống các công trình khai thác một cách phù hợp.

Xây dựng mới hoặc mở rộng các bãi giếng khai thác dọc theo Sông Hồng, Sông Đuống (như khu vực Thượng Cát, Chèm, Đông Anh, Gia Lâm), các vùng xa ngoại ô thành phố và vùng lân cận; đồng thời giảm lưu lượng khai thác ở các bãi giếng nằm trong thành phố, khu vực mực nước hạ thấp lớn (như Hạ Đình, Tương Mai, Ngọc Hà, Mai Dịch).

Hạn chế dần và không mở mới công trình khai thác trong khu vực nội thành, đặc biệt cần loại bỏ loại hình giếng khai thác kiểu UNICEF trong khu vực nội thành; tăng cường xây dựng các trạm cấp nước tập trung ở khu vực các quận, huyện, ngoại thành để thay thế dần kiểu khai thác nhỏ lẻ.

Cần có kế hoạch xử lý, trám lấp toàn bộ các giếng hỏng, giếng bị huỷ bỏ, giếng không đủ chất lượng trong khu vực thành phố.

Xây dựng đới bảo vệ trong khu vực các bãi giếng đang khai thác.

Tăng cường công tác kiểm soát, giám sát việc thải chất thải, nước thải, nhất là đối với các loại nước thải độc hại tại các cơ sở sản xuất trong thành phố và tại các khu vực gần công trình khai thác nước.

Hạn chế hoặc không cho phép khoan các giếng khoan nông trong khu vực thành phố, tăng cường xây dựng các trạm cấp nước tập trung cho các khu vực thuộc thị trấn, nơi tập trung đông dân cư để thay thế, dần dần tiến tới huỷ bỏ các giếng khoan nhỏ lẻ.

Kiểm soát chặt chẽ việc khoan khảo sát địa chất công trình, thi công xây dựng công trình trong khu vực thành phố, hạn chế việc sử dụng chất phụ gia khi xử lý nền móng các công trình xây dựng.

Và cuối cùng cần tăng cường hơn nữa công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước ở Thành phố Hà Nội.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Góp ý Luật luật An toàn, vệ sinh lao động: Lấy bảo vệ con người và quản trị rủi ro làm trung tâm
Ngày 30/10/2026, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn Vệ sinh Lao động Việt Nam (VOSHA) tổ chức Hội thảo "Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động". Hội thảo do PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch VUSTA và GS.TS Lê Vân Trình, Chủ tịch VOSHA đồng chủ trì.
VUSTA công bố các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt
Ngày 30/10/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trang trọng tổ chức Hội nghị công bố các quyết định quan trọng về công tác cán bộ. Lãnh đạo VUSTA đã trao quyết định nghỉ hưu hưởng chế độ cho 02 cán bộ, chuyên viên, đồng thời trao các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng “Vì người nghèo”
Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.
Thủ tướng mong muốn đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng kiến tạo chuỗi giá trị mới
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và kiến tạo những chuỗi giá trị mới.
Tạo động lực tăng trưởng xanh từ khoa học, công nghệ
Chính phủ Việt Nam nhiều lần khẳng định quan điểm "không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế". Trong bối cảnh đó, việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu tăng trưởng nhanh và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các giải pháp khoa học, công nghệ đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Hội nghị Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ nhất (khóa IX)
Chiều 28/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ nhất (khóa IX), nhiệm kỳ 2026 - 2031. Hội nghị tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản nền tảng quan trọng, đánh giá kết quả hoạt động từ sau Đại hội IX, đồng thời đề ra nhiệm vụ trọng tâm đến cuối năm 2026.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 10/2026: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm
Sáng 28/10, tại Hà Nội, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 10, xác định nhiệm vụ trọng tâm tháng 11/2026 và triển khai một số nội dung quan trọng liên quan đến công tác xây dựng Đảng.
GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.