Huyệt vị là những điểm phân bố khắp mặt ngoài cơ thể, có tác dụng phòng và trị bệnh theo Đông y. Huyệt nằm tập trung chủ yếu trên những đường kinh, mạch – là những đường chạy ngang dọc khắp cơ thể, ở nhiều mức độ nông sâu khác nhau. Theo Đông y, hệ thống kinh lạc là những đường tuần hoàn của khí huyết đi nuôi dưỡng toàn thân, duy trì hoạt động bình thường của cơ thể, làm cơ thể thành một khối thống nhất. Hiểu một cách nôm na, nếu gọi các đường kinh là những đường xe lửa thì các huyết đạo chính là những nhà ga lớn nhỏ. Cần nhớ huyệt không phải là những hình thái tại chỗ của da, cơ, gân, xương.
Tác dụng sinh lý và bệnh lý của huyệt
Huyệt có quan hệ chặt chẽ với các hoạt động sinh lý và biểu hiện bệnh lý của cơ thể, giúp cho việc chẩn đoán bệnh và phòng chữa bệnh một cách tích cực. Huyệt là nơi khí huyết của cơ thể vận hành qua lại, là cửa ngõ giúp cơ thể thông thương với môi trường bên ngoài, đồng thời cũng có thể là vị trí bị xâm lấn bởi tà khí (các yếu tố gây bệnh) từ bên ngoài vào cơ thể.
Khi một đường kinh, một tạng phủ của cơ thể có bệnh, sẽ thể hiện những dấu hiệu khác thường ở huyệt, thường gặp là đau tại huyệt (đau tự nhiên hoặc ấn vào đau) hoặc thay đổi màu sắc tại huyệt (ửng đỏ). Tùy vị trí huyệt biến đổi mà thầy thuốc có thêm tư liệu để gợi ý chẩn đoán. Như vậy, huyệt còn có ý nghĩa trong chẩn đoán bệnh tật.
Huyệt còn được dùng để phòng bệnh và điều trị thông qua những kích thích lên huyệt. Với một liều lượng kích thích thích hợp, thầy thuốc y học cổ truyền có thể sơ thông kinh lạc, điều hòa được khí huyết, lấy lại thăng bằng âm dương cho cơ thể. Điều này cũng đồng nghĩa với việc làm ổn định những rối loạn bệnh lý, lập lại hoạt động sinh lý bình thường cho cơ thể.
Các kích thích lên huyệt sẽ tác động vào cơ thể thông qua đường dẫn truyền là hệ thống kinh lạc. Ngoài ra, hệ thống này còn là đường dẫn thuốc vào cơ thể, đưa thuốc đến các cơ quan tạng phủ mong muốn. Tùy theo mối liên hệ giữa huyệt và kinh lạc, tạng phủ, khả năng phòng và chữa bệnh của mỗi huyệt có khác nhau.
Các thủ thuật tác động lên huyệt
Thường gặp nhất là dùng kim để châm lên huyệt. Các thủ thuật khác là dùng kim tam lăng (kim lớn có 3 cạnh ) chích lên huyệt để nặn máu ( chích lể) hoặc dùng kim mai hoa (đầu có 5 hoặc 7 mũi kim nhỏ chụm lại) để gõ nhẹ lên huyệt. Có thể dùng ngón tay bấm lên huyệt ( bấm huyệt). Hoặc dùng sức nóng hơ nóng huyệt ( cứu).
Xác định vị trí huyệt
Có nhiều cách xác định vị trí huyệt được đề cập đến trong nhiều y thư từ xưa đến nay, nhưng hiện nay có 3 cách được thống nhất sử dụng nhiều trong lâm sàng: - Dựa vào đơn vị tỉ lệ: là cách chia đều một đoạn chiều dài hay chiều rộng của một phần thân thể người ra một số đoạn nhất định, mỗi đoạn được xem là một đơn vị tỉ lệ, còn gọi là “thốn”. Cách này được dùng nhiều vì đơn giản và khá chính xác, có thể áp dụng cho cả người già và trẻ em.
Ví dụ: trên mặt trước cẳng tay, khoảng cách giữa nếp nhượng tay và nếp cổ tay được chia thành 12 thốn.
- Dựa vào ngón tay bệnh nhân: dựa vào độ dài ngón tay bệnh nhân xem như mẫu tiêu chuẩn. Nếu ngón tay bệnh nhân tương đương thầy thuốc thì thầy thuốc có thể đo bằng ngón tay của mình. Cách này tuy đơn giản nhưng không chính xác bằng đo theo đơn vị tỷ lệ.
Ví dụ: khoảng cách giới hạn bởi 2 đầu nếp gấp của ngón tay giữa là 1 thốn.
- Dựa vào mốc giải phẫu: mốc giải phẫu tự nhiên (lông mày, khóe mắt, các nếp gấp, đầu xương, rốn, núm vú...) hoặc phải dùng tay tìm (chỗ tiếp giáp các xương, các mỏm gai đốt sống, các chỗ lõm, các đầu xương chìm sâu như xương sườn 11, 12,..., xương ức). Một số huyệt đặc biệt phải dựa vào tư thế bệnh nhân, ví dụ như muốn xác định huyệt phong thị phải cho bệnh nhân đứng thẳng, 2 tay áp sát 2 bên đùi. Chỏ đầu ngón tay giữa chạm vào 2 bên đùi là vị trí huyệt.
Ngoài 3 cách xác định vị trí huyệt như trên, y học ngày nay đã phát minh ra máy đo huyệt, dựa trên nguyên tắc tại vị trí huyệt sẽ có điện trở ngoài da thấp hơn so với chung quanh. Do đó, khi dùng đầu dò rà trên mặt da ở vùng có huyệt, máy sẽ cho biết vị trí huyệt dựa vào đèn báo cháy sáng. Tuy khá hiện đại nhưng phương pháp này lại ít được dùng trong thực tế điều trị vì điện trở da phụ thuộc rất nhiều vào độ ẩm của bề mặt da và không khí, ngoài ra còn phụ thuộc vào việc đầu dò huyệt ấn trên mặt da mạnh hay nhẹ.
Nhìn chung, đa phần các huyệt trên cơ thể đều có vị trí nằm ở chỗ lõm, các vùng trũng, các khe kẽ trên cơ thể hoặc giữa 2 xương. Các huyệt không nằm ở các vùng trên được xác định bằng phương pháp phép đo tỉ lệ hoặc “thốn”.
Ví dụ về huyệt bách hội: nằm chính giữa đỉnh đầu, từ chân tóc trán đo thẳng ra sau 5 thống, trên đường giữa thân. Vùng da đầu có đặc điểm là nhiều mạch máu, và dưới da là nền xương, nên khi châm huyệt bách hội rất dễ gây chảy máu và mũi kim dễ đụng nền xương gây đau nhẹ. Đây là một tai biến nhẹ thường gặp khi châm, không có gì nguy hiểm. Chỉ cần sát trùng bằng cồn 70°, dùng bông gòn sạch đè chặt lên huyệt là hết chảy máu.