Huyết áp cao hướng dẫn điều trị mới
Bệnh cao huyết áp là một trong những bệnh phổ thông nhất trong dân chúng. Dùng mức giới hạn là ³ 140/90mm Hgđể xem như cao huyết áp. Gần 1/4 người lớn được chẩn đoán cao huyếp áp, và 1/4 khác ở trong nhóm tiền cao huyết áp (huyết áp tâm thu giữa 120 – 139mm Hg và huyết áp tâm trương giữa 80 – 89mm Hg).
Huyết áp tâm thu tiếp tục tăng cùng với tuổi, trong khi huyết áp tâm trương có chiều hướng suy giảm khi chúng ta trên 50 tuổi. Vai trò huyết áp tâm thu và tâm trương để tiên đoán bệnh thiếu máu cơ tim cũng thay đổi với tuổi tác. Huyết áp tâm trương là yếu tố nguy hiểm trầm trọng khi dưới 50 tuổi, và huyết áp tâm thu có ý nghĩa quan trọng hơn cho người trên 60 tuổi.
Giảm huyết áp tâm thu 10mm Hg ở thời kỳ trung niên có thể giảm nguy cơ tử vong tim mạch khoảng 50%. Lời khuyên hiện nay tập trung vào điều trị cao huyết áp ở nhóm bệnh nhân có nguy cơ bệnh thiếu máu cơ tim.
Những điểm chính trong bảng hướng dẫn mới
* Để phòng ngừa chung bệnh thiếu máu cơ tim, huyết áp phải thấp hơn 140/90mm Hg. Trong số những bệnh nhân với thang điểm Framingham về nguy cơ bệnh tim mạch trong 10 năm vượt quá 10%, bệnh đái tháo đường, bệnh suy thận mãn, bệnh động mạch vành biết rõ, huyết áp mục tiêu phải ở mức xấp xỉ 130/80mm Hg. Các tác giả bảng hướng dẫn mới cũng khuyên đưa huyết áp xuống dưới 120/80mm Hg cho bệnh nhân rối loạn chức năng tâm thất trái.
* Trong khi lý thuyết cho rằng giảm thái quá huyết áp tâm trương có thể gây kết quả tim mạch xấu hơn còn đang tranh cãi và chỉ được hỗ trợ một phần bởi những nghiên cứu lâm sàng, tác giả khuyên giảm huyết áp tâm trương xuống chậm rãi từ từ. Nên cẩn thận khi huyết áp tâm trương tụt xuống dưới 60mm Hg ở bệnh nhân trên 60 tuổi và người bệnh đái tháo đường.
* Việc điều trị để giảm huyết áp đến mức mục tiêu quan trọng hơn là chọn thuốc giảm huyết áp để giảm nguy cơ tim mạch. Điều trị tuyến đầu có thể gồm thuốc lợi tiểu thiazid, thuốc ức chế men chuyển, hay thuốc chẹn thụ thể angiotensin, hay thuốc chẹn kênh calcium. Nếu huyết áp mục tiêu đòi hỏi giảm hơn 20/10mm Hg, bác sĩ nên dùng 2 món thuốc kết hợp để giảm huyết áp.
* Điều trị bệnh nhân cao huyết áp và bệnh đau thắt ngực mãn tính phải gồm beta-blocker nếu trước đó bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim. Thuốc chẹn kênh calcium không phải dihydropyridin có thể dùng cho bệnh nhân không dung nạp beta-blocker nhưng không được dùng cho bệnh nhân rối loạn chức năng tâm thất trái.
* Beta-blocker là thuốc được chọn cho bệnh nhân nằm bệnh viện với hội chứng động mạch vành. Những bệnh nhân này phải dùng thuốc chống men chuyển hay thuốc chẹn thụ thể engiotensin nếu có chứng cứ nhồi máu cơ tim phía trước, cao huyết áp dai dẳng, hay suy tim hay có bệnh đái tháo đường.
* Thuốc đối kháng aldosteron có thể được nghĩ đến cho bệnh nhân rối loạn chức năng tâm thất trái, nhưng nhóm thuốc này phải tránh nếu mức creatinin huyết thanh trên 2,5mg/dl cho phái nam và trên 2,0mg/dl cho phái nữ. Thuốc kháng aldosteron cũng không thích hợp cho bệnh nhân có mức kali huyết thanh ³ 5m Eq/L.
* Nên tránh dùng đồng thời thuốc ức chế men chuyển và thuốc chẹn thụ thể angiotensin ở thời kỳ ngay sau khi nhồi máu cơ tim với sóng ST tăng cao, nhưng có thể cho phép dùng các nhóm thuốc khác ở bệnh nhân cao huyết áp và suy tim.
* Thuốc kháng alpha như doxazosin chỉ dùng cho bệnh nhân cao huyết áp đã dùng liều cao các thuốc hạ áp khác.








