Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 30/11/2010 19:25 (GMT+7)

Hội chứng "Trắng gan - Trắng mang" trên cá tra

Chính vì thế, vừa qua Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản II (Viện II) đã tổ chức Hội thảo chuyên để về bệnh "trắng gan - trắng mang" trong khuôn khổ để tài nghiên cứu khoa học nhằm xác định tác nhân gây bệnh này và đề ra biện pháp phòng trị hữu hiệu. Kết quả bước đầu từ khảo sát và ghi nhận từ thực tế sản xuất của các cơ sở sản xuất giống và nuôi thương phẩm trong phạm vi các tỉnh An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp và Vĩnh Long là mức độ gây thiệt hại đối với bệnh này là nghiêm trọng (5 - 60%), chưa có thuốc điều trị hiệu quả và có chung nhận xét như sau :

- Thời gan xuất hiện: Bệnh này xảy ra chủ yếu trên cá tra giống và cá nuôi thương phẩm trong giai đoạn đầu (dưới 3 tháng tuổi) và thường theo sau một số bệnh nhiễm khuẩn như bệnh gan thận mủ, xuất huyết. . . có sử dụng kháng sinh không đúng cách và điều trị dài ngày (7 - 10 ngày). Thời điểm xuất hiện bệnh gan như quanh năm nhưng tập trung vào những lúc chất lượng nước có nhiều biến động như giao mùa, đầu mùa lũ.

- Biểu hiện bệnh: Khi cá mắc bệnh, quan sát bên ngoài thấy vi cá mất màu, mang cá chuyền từ màu đỏ tươi thành trắng nhạt, cá bơi lờ đờ cập bờ và thường tập trung nơi có nước chảy, cá sẽ chết nhanh khi vớt ra khỏi ao. Biểu hiện này là do mang cá bình thường có màu đỏ thắm, là nơi tập trung dày đặc các mạch máu để thực hiện chức năng hô hấp vận chuyển và trao đổi khí. Sự mất màu và chuyển sang màu trắng nhạt ở mang là do hồng cầu đã biến mất, sụt giảm nghiêm trọng hoặc không có huyết sắc tố (hemoglobin).

- Bệnh tích: Giải phẫu cá bệnh, quan sát bên trong thấy xoang bụng và tất cả nội quan đều có màu vàng rơm hay vàng nhạt, túi mật sưng chứa đầy dịch vàng trong, tỳ tạng cá teo nhỏ, hệ tiêu hóa không có thức ăn.. Ngoài việc đổi màu do sự thiếu huyết sắc tố thì không phát hiện thương tổn nào khác, nhất là gan thận của cá nuôi trong cùng một ao, không có sự khác biệt ở cá bệnh và cá khỏe.

Tuy nhiên, vẫn có ghi nhận khác từ phía một số người nuôi là bệnh này phát hiện đồng thời với nhiễm khuẩn và ký sinh trùng…. Và theo kết quả khảo sát bước đầu của Viện II, tại Vĩnh Long, Đồng Tháp, Thốt Nốt (Cần Thơ), An Giang, đã ghi nhận biểu hiện bệnh có nhiều dạng khác nhau như:

+ Dạng 1: Cá bệnh có biểu hiện bên ngoài bình thường, không xuất huyết trên thân và các gốc vây, không chướng bụng. Kiểm tra mang cá cho thấy, mang cá đã chuyển sang màu trắng hồng nhạt, vòng theo cung mang có viền lấm tấm màu xám nhạt đến xám sậm trên các sợi tơ mang. Đặc biệt, mang cá không tiết nhớt trắng đục, mặc dù mang cá mất sắc tố nhưng tơ mang vẫn sạch, mượt, khi cá bệnh nặng (đã bỏ ăn) màu cá cũng trở nên hồng nhạt, gan không còn sắc tố chuyển sang màu vàng đất.

+ Dạng 2: Cá bệnh có biểu hiện xuất huyết nhẹ ở các gốc vây, không xuất huyết dạng đốm, không chướng bụng. Mang cá cũng mất sắc tố, chuyển sang hồng nhạt, nhưng màu hồng không tươi sáng như dạng 1 và mang cũng không tiết nhiều nhớt, trên các tơ mang có lẫn những tia máu thật mảnh như sợi chỉ. Máu cá cũng mất sắc tố nhưng nhạt màu không như dạng 1 và có màu hồng tối.

+ Dạng 3: Cá bệnh có biểu hiện xuất huyết lấm tấm ở mặt bụng, gốc vây cũng xuất huyết lấm tấm dạng điểm. Mang cá không còn đỏ tươi và đã chuyển sang hồng nhạt. Trên mang xuất huyết lấm tấm dạng điểm. Mang cá rất sạch, không tiết nhớt. Gan, thận không biến màu; Tì tạng sậm màu, máu cá không mất sắc tố.

Tất cả chỉ mới là bước đầu ghi nhận trong quá trình nghiên cứu. Các nhà khoa học của Viện II đang trong quá trình nghiên cứu sâu với số lượng bệnh phẩm lớn được thu từ các vùng nuôi khác nhau để xác định tác nhân gây bệnh, tìm ra cơ chế lây nhiễm từ đó mới hoàn toàn có cơ sở khoa học đưa ra các biện pháp kỹ thuật đề phòng và điều trị bệnh hiệu quả. Mặc dù hiện nay chưa oó thuốc đặc trị, nhưng dựa trên nguyên lý và cơ chế phát sinh bệnh thủy sản nói chung, người nuôi vẫn có thể giảm thiểu tác nhân gây bệnh và thiệt hại do hội chứng "trắng gan, trắng mang" gây ra bằng các biện pháp tổng hợp sau đây:

1. Cải tạo môi trường nuôi:

Tẩy dọn ao thật kỹ trước khi ương nuôi: Nạo vét kỹ bùn dưới đáy ao, tu sửa lại bờ mương, dọn sạch cỏ rác, phơi đáy ao, sau đó dùng các loại hóa chất để tẩy dọn nhằm diệt dịch hại và sinh vật là ký chủ trung gian, sinh vật cạnh tranh thức ăn của tôm cá như các loài cá dữ , cá tạp, giáp xác, côn trùng, nòng nọc, sinh vật đáy; diệt các sinh vật gây bệnh cho cá như các giống loài vi sinh vật: vi khuẩn, nấm, tảo đơn bào và các loại ký sinh trùng.

+ Dùng vôi để sát khuẩn: Vôi sống, vôi bột hoặc vôi tôi, liều lượng: 10-15kg/100m 2định kỳ có thể rắc vôi 2 tuần/ lần : 10-20g/m 3nước, treo túi vôi ở bè nuôi :2-4kg/10m 2bè.

+ Dùng Clorua vôi (Ca(OCL) 2tẩy ao, sát trùng dụng cụ nuôi, liều lượng: 50ppm (50g/m 3), ngâm dụng cụ qua đêm nồng độ: 200-220ppm.

2. Tiêu diệt nguồn gốc gây bệnh:

Tiến hành kiểm dịch giống trước khi vận chuyển, dùng các biện pháp xử lý để tránh mang mầm bệnh từ nơi này sang nơi khác.

- Sát trùng cơ thể cá: Mặc dù ao đã tẩy dọn kỹ, nhưng cá giống có thể mang mầm bệnh vào ao hồ nên sau khi kiểm dịch, tùy theo kết quả mà chọn:

+ Tắm cá: CUSO 45H 2O (phèn xanh) 2- 5ppm/ 5-15 phút; Muối ăn NaCL 3-5%/ 3-5 phút; Formalin 200-300 ppm/ 15-20 phút.

+ Phun xuống ao 1 trong các loại hóa chất trên, nồng độ giảm đi 10 lần.

- Sát trùng nơi cá đến ăn: Nơi cho cá ăn thường chứa thức ăn bị thừa, thối rữa gây nhiễm bẩn, tạo điều kiện cho sinh vật gây bệnh phát triển. Do đó nên vớt bỏ thức ăn thừa, rửa sạch sàng ăn, thường xuyên khử trùng địa điểm cho ăn. Loại thuốc, liều dùng tùy thuộc vào chất nước, nhiệt độ và mực nước trong ao. Tốt nhất dùng vôi nung hoặc clorua vôi treo 2-3 túi xung quanh chỗ ăn để tẩy trùng, liều lượng: 2-4kg/túi vôi nung, 100-200g/ túi Clorua vôi.

- Sát trùng dụng cụ: Dùng dung dịch Ca(OCL) 2200ppm để ngâm ít nhất 1 giờ và rửa sạch mới dùng. Nên dùng dụng cụ riêng biệt từng ao, nếu thiếu sau khi sử dụng phải có biện pháp khử trùng trước khi dùng cho ao khác.

- Dùng thuốc phòng ngừa trước mùa phát triển bệnh: Sử dụng các lọai sản phẩm có tác động đến sự phục hồi hoạt động của thận, tỳ tạng, gan, gia tăng mật số huyết sắc tố trong máu để đảm bảo chức năng vận chuyển và trao đổi oxy (TS. Nguyền Đức Hiền).

3. Tăng sức để kháng của cơ thể ĐVTS nuôi:

- Nên mua con giống để ương và nuôi có nguồn gốc bố mẹ rõ ràng, tốt nhất là nên sử dụng con giống đã được chọn lọc có chất lượng cao ở các Trung tâm giống thủy sản và các cơ sở ương có uy tín.

- Định kỳ bổ sung Vitamin C để tăng sức đề kháng cho vật nuôi, nhất là vào thời điểm giao mùa.

4. Cải tiến kỹ thuật ương nuôi:

- Không nên ương, nuôi mật độ quá dày: Mật độ ương từ cá bột lên cá hương từ 300 - 400 con/m 2; cá hương lên cá giống từ 100 - 150 con/m 2, mật độ nuôi thương phẩm từ 25 -30 con/m 2.

- Cho cá ăn đảm bảo chất và số lượng theo giai đoạn phát triển, lúc cá có dấu hiệu bệnh nên giảm lượng thức ăn;

- Quản lý chất lượng nước trong ao ương và nuôi thật tốt, tránh để xảy ra hiện tượng các yếu tố thủy lý hóa biến động lớn và ao nhiễm bẩn trong quá trình sản xuất;

- Sử dụng hóa chất và kháng sinh phải tuân thủ theo qui định, sử dụng kháng sinh điều trị các bệnh nhiễm khuẩn phải đúng theo hướng dẫn của của chuyên môn kỹ thuật.

- Đinh kỳ 10 -15 ngày sử dụng muối và vôi để sát khuẩn cho cá.

Động vật thủy sản mắc bệnh là kết quả tác động lẫn nhau giữa vật chủ (thủy sản nuôi), mầm bệnh và môi trường sống, bệnh xảy ra khi sự thăng bằng của 3 nhân tố trên bị xáo trộn. Do đó, việc áp dụng các biện pháp tổng hợp trên để phòng sẽ hạn chế thấp nhất rủi ro do bệnh gây ra và góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất cho nghề nuôi.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Đắk Lắk: Trí thức khoa học và công nghệ - góp phần phát triển nhanh, bền vững của tỉnh
Sau hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên, không gian phát triển mới mở ra nhiều cơ hội, đồng thời đặt ra những yêu cầu mới đối với đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ. Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk nhiệm kỳ 2026–2031 là dấu mốc quan trọng, khẳng định quyết tâm tập hợp, phát huy trí tuệ đội ngũ trí thức, đóng góp vào sự phát triển nhanh và bền vững của tỉnh.
Vĩnh Long: Thúc đẩy ứng dụng công nghệ sinh học trong phát triển bền vững
Chiều ngày 31/7/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (Liên hiệp Hội) phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Nông nghiệp và Môi trường cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) đã tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề: “Ứng dụng công nghệ sinh học trong phát triển bền vững tỉnh Vĩnh Long: Kết nối nghiên cứu, chuyển giao và đổi mới sáng tạo”
Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 7/2026: xem xét nhiều nội dung quan trọng
Chiều ngày 31/7/2026, Ban Chấp hành Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức hội nghị thường kỳ để thảo luận và cho ý kiến nhiều nội dung quan trọng về công tác tổ chức xây dựng Đảng, kiểm tra, giám sát, phát triển đảng viên và chuẩn bị cho Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Cụm thi đua Liên hiệp hội các tỉnh Nam Bộ sơ kết công tác thi đua 6 tháng đầu năm 2026
Chiều ngày 30/7/2026, tại tỉnh Đồng Tháp, Cụm thi đua Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật các tỉnh Nam Bộ tổ chức Hội nghị sơ kết công tác thi đua, khen thưởng 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Hội nghị do TTND.TS.BS Ngô Văn Tán, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Vĩnh Long, Cụm trưởng Cụm thi đua chủ trì.
Đắk Lắk tổ chức thành công Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 – 2031
Sáng 30/7, tại Khách sạn ELEPHANTS (tỉnh Đắk Lắk), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp Hội) long trọng tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 – 2031 với sự tham dự của 250 đại biểu đại diện cho đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ, các hội thành viên cùng lãnh đạo các sở, ban, ngành và địa phương trong tỉnh.
Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Tuyên Quang lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 thành công tốt đẹp
Trong hai ngày 28-29/7, Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Tuyên Quang lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã diễn ra trọng thể với chủ đề “Tập hợp, đoàn kết, phát huy sức mạnh trí tuệ của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ; đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động, xây dựng Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh vững mạnh, góp phần xây dựng tỉnh Tuyên Quang phát triển toàn diện, bền vững”.