Hội An
Nằm ở vùng cửa sông Thu Bồn, Hội An có mạng lưới đường thủy dài khoảng 34km và rất gần biển. Hội An cũng có nhiều bãi biển và làng chài, như bãi biển An Bàng (cách về phía bắc của Hội An khoảng 4 km), bãi biển Phước Trạch – một bãi biển tuyệt đẹp với nhiều rặng phi lao (Allocasuarina) và xã Cẩm Thanh (cách về phía đông của Hội An khoảng 3km), nằm ngay giữa cửa sông Thu Bồn, gần bãi bồi Thuận Tình.
Ngoài khơi là một quần đảo được biết đến với cái tên Cù Lao Chàm. Cù Lao Chàm gồm 8 hòn đảo nhỏ: Hòn Lao, Hòn Khô Mẹ, Hòn Khô Con, Hòn Tai, Hòn Dài, Hòn Lá, Hòn Mồ, Hòn Ông. Cù Lao Chàm có tổng diện tích là 15,5 km2, trong đó có rừng chiếm 90% diện tích, đất nông nghiệp chiếm 7%, còn lại 3% diện tích là khu dân cư (với số dân khoảng 2.800 người).
Thành phố Hội An hiện nay có 9 phường (Minh An, Sơn Phong, Cẩm Phô, Thanh Hà, Tân An, Cửa Đại, Cẩm Châu, Cẩm An, Cẩm Nam) và 4 xã (Cẩm Thanh, Cẩm Hà, Cẩm Kim và xã đảo Tân Hiệp – Cù Lao Chàm cách đất liền 18 km). Dân số Hội An khoảng 83.000 người.
Lịch sử và sự phát triển của Hội An
Thời tiền sử
Lịch sử thương cảng Hội An có thể bắt nguồn từ thời Sa Huỳnh muộn (từ năm 200 trước Công nguyên đến năm 200 sau Công nguyên). Các di tích khảo cổ học từ thời Sa Huỳnh bao gồm mộ chum, với những công cụ, đồ trang sức bằng đá, gốm, thủy tinh, kim loại… đã được tìm thấy tại các di chỉ khảo cổ học ở Cẩm Hà, Thanh Hà, Cẩm Phô, Cẩm Thanh.
Các loại tiền đồng Trung Quốc (Ngũ Thủ, Vương Mãng) và những hiện vật sắt kiểu Tây Hán, dáng dấp văn hóa Đông Sơn, Óc Eo, đã chứng minh một điều thú vị rằng, ngay từ thời kỳ Sa Huỳnh đã có giao thương với các cộng đồng cư dân đến từ Trung Hoa và từ Nam, Trung bộ Việt Nam.
Di chỉ khảo cổ học ở Bãi Ông (Cù Lao Chàm) chứng tỏ rằng nơi đây đã có người cư trú cách đây trên 3.000 năm.
Thời kỳ champa
Trong suốt thời kỳ Champa (từ thế kỷ II đến thế kỷ XV), Hội An được biết đến với cái tên Lâm Ấp phố (khu phố cổ Champa) và là một khu phố chính của vương quốc Trà Kiệu (miền Trung Việt Nam ngày nay).
Giữa thế kỷ IX và X, Lâm Ấp phố trở thành một cảng thị quan trọng, thu hút nhiều thương nhân Ả Rập, Ba Tư, Trung Quốc đến buôn bán, trao đổi vật phẩm như tơ tằm, ngọc trai, đồi mồi, vàng, trầm hương, nước ngọt…. Những phế tích móng Chăm, những giếng nước Chăm và những pho tượng Chăm (tượng Vũ Công Thiên Tiên Gandhara, tượng Nam thần Tài lộc – Kubera…) cùng những mảnh gốm – sứ Trung Quốc và Trung Cận Đong, đồ trang sức, những mảnh thủy tinh màu được phát hiện đã minh chứng cho sự buôn bán nhộn nhịp ở Lâm Ấp phố trong suốt thời kỳ Champa.
Song, thời kỳ huy hoàng của vương quốc Champa cũng khá ngắn ngủi do cuộc chiến tranh liên miên với người Đại Việt và Khmer. Cuối cùng, người Đại Việt đã chiếm lấy ưu thế và mở rộng dần về phía Nam. Các cuộc Nam tiến của Lê Hồng Đức (1471) và của chúa Nguyễn Phúc Chu (1693) đã kéo dài biên giới về phía Nam đến đèo Cù Mông, nay là thành phố Quy Nhơn (tỉnh Bình Định).
![]() |
Thời kỳ Đại Việt
Người Việt kế tiếp người Chăm là một bộ phận cư dân cơ bản, chủ nhân chính của khối cộng đồng cư dân Hội An ngày nay với nguồn gốc chủ yếu đến từ miền Bắc và Bắc Trung bộ Việt Nam. Thời kỳ Đại Việt kéo dài từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XIX.
Theo một số gia phả của các tộc họ Trần, Nguyễn Viết, Nguyễn Đức, Huỳnh, Lê Viết… thì những người sinh sống ở Hội An chủ yếu đến từ các vùng Thanh Hóa – Nghệ An – Hà Tĩnh vào thế kỷ XV.
Khi người Đại Việt đến định cư ở Hội An, họ chủ yếu sinh sống bằng các nghề nông nghiệp (ví dụ như trồng lúa nước) và ngư nghiệp. Các làng ở khu vực Hội An dần dần trở thành các làng phát triển theo hướng chuyên ngành, chuyên nghề, đặc biệt là các hình thức sản xuất thủ công, và giao thương buôn bán giữa các làng với nhau, rồi cuối cùng là giao thương với nước ngoài. Rất nhiều làng nghề thủ công vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Chẳng hạn như nghề chạm khắc gỗ vẫn còn hoạt động ở Kim Bồng và nghề gốm vẫn còn ở làng Thanh Hà.
Hội An có lợi thế vị thế địa lý thuận lợi (gần cửa sông Thu Bồn, có cảng sâu, tàu bè qua lại dễ dàng) và vị trí càng an toàn. Những chính sách ngoại thương của Trung Quốc trong suốt thời kỳ này cũng đã có tác động lớn đến sự phát triển của Hội An. Triều Minh ở Trung Hoa đã cấm xuất khẩu nhiều hàng hóa đến Nhật Bản trong thời kỳ Châu Ấn Thuyền (từ 1592 – 1636) đã ban hành giấy phép đặc biệt cho phép các tàu buôn đến vùng Đông Nam châu Á và đặc biệt là đến Hội An để mua các sản vật của Trung Quốc. Vì vậy, trong suốt thời kỳ này, có rất nhiều thương nhân Trung Quốc, Nhật Bản đến đô thị Hội An. Hội An đã trở thành một trung tâm thương mại quan trọng của cả nước và trong khu vực, và cũng là một điểm tụ cư của nhiều dân di cư, kể cả những người đến từ Ấn Độ.
Vào đầu thế kỷ XVII, đô thị Hội An được biết với cái tên Faifo và được chia thành hai khu phố gắn với Chùa Càu, một công trình độc đáo do người Nhật xây dựng, sau này người Hoa tu bổ. Một phố là của người Nhật và phố kia là của người Hoa. Mỗi phố có một khu vực riêng, có cơ quan cai trị riêng và sống theo tập tục riêng.
“Hội An là một mã đầu lớn, nơi tập trung của khách hàng các nước, thẳng bờ sông một con đường dài 3 – 4 dặm gọi là Đại đường cái, hai bên đường hàng phố ở liền nhau khít rịt, chủ phố thảy là người Phúc Kiến… cuối cùng là cầu Nhật Bản, tứ Cẩm Phô. Cách bờ bên kia tức Trà Nhiêu, nơi đình đạc của tàu ngoại quốc (1).
Trong suốt thời kỳ này, việc buôn bán với các thương nhân châu Âu cũng phát triển thịnh vượng, và người Hà Lan đã lập các thương điếm ở Hội An từ những năm 1636 đến 1741 (2). Khu phố trở nên nổi tiếng ở Pháp và Tây Ban Nha với cái tên Faifo và cũng được nhiều người Bồ Đào Nha và Hà Lan biết đến với những cái tên tương tự.
Trong suốt nửa đầu thế kỷ XVIIII, Hội An đã trở thành một trong những cửa ngõ truyền bá đạo Cơ Đốc. Đạo Thiên Chúa lúc đầu được các giáo six Dòng Tên của Bồ Đà Nha truyền bá đầu tiên vào giữa những năm 1615 và 1658, sau đó các giáo sĩ Hội Thừa sai Paris, dòng Dominican kế thừa phát huy. Những người truyền đạo Thiên Chúa đã hình thành chữ Quốc ngữ (chữ viết tiếng Việt theo chữ Latin) (3). Một giáo sĩ người Pháp Alexandre de Rhodes là người đầu tiên xuất bản cuốn từ điển và cuốn sách tôn giáo bằng chữ Quốc ngữ (4).
Thời kỳ Đại Nam
Thời kỳ Đại Nam bắt đầu từ đầu thế kỷ XIX (1802) kéo dài đến năm 1945. Thời kỳ này đã đánh dấu Triều đại Nguyễn, do gia đình họ Nguyễn sáng lập và xây dựng kinh thành Huế - phía bắc của Hội An.
![]() |
Trong thời kỳ triều Nguyễn, nhiều thương nhân Trung Hoa tiếp tục đến Hội An để trao đổi hàng hóa. Trong suốt mùa mưa bão (từ tháng 8 đến tháng 10), các thương nhân Trung Hoa thường lưu trú dài ngày. Họ đã xây các mối quan hệ với người dân địa phương. Các thương nhân Trung Hoa thường cưới vợ người Việt để thiết lập sự nghiệp buôn bán lâu dài ở Hội An.
Người Pháp đã giành được sự kiểm soát khu vực Đông Dương vào năm 1886, và giữa những năm từ 1887 đến 1945, Việt Nam là một phần thuộc địa của Pháp ở Đông Dương. Hội An trở thành một trung tâm của các phong trào dân tộc trong tỉnh Quảng Nam và Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên được thành lập ở Hội An vào năm 1927.
Vào năm 1940, trong suốt thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ II, Nhật Bản đã đưa quân đội vào Việt Nam thông qua thỏa hiệp với Chính phủ Pháp. Sau đó, Nhật Bản đã giành được quyền kiểm soát ở Đông Dương và cai trị Việt Nam cho đến Cách mạng tháng Tám, thời kỳ của các cuộc biểu tình và nổi dậy chống lại sự thống trị của bọn thực dân trong cả nước diễn ra từ ngày 19 đến 25 – 8 – 1945.
Từ năm 1945 đến nay
Đến cuối Chiến tranh thế giới thứ II, cuộc kháng chiến trường kỳ của những người Việt Nam (Việt Minh) với chống lại thực dân Pháp, đỉnh điểm là trận Điện Biên phủ vào năm 1954. Chiến thắng của Việt Minh trong trận đánh này đã đánh dấu sự kết thúc của bọn thống trị thực dân Pháp và dẫn đến sự chia cắt đất nước Việt Nam ở vĩ tuyến 17.
Giữa năm 1959 đến 1975, chiến tranh Việt Nam, cũng được biết đến với cuộc kháng chiến chống Mỹ và toàn thắng vào ngày 30 – 4 – 1975.
Vào ngày 2 – 7 – 1976, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tuyên bố. Vào năm 1979, lại xảy ra chiến tranh biên giới giữa nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa với Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, có ảnh hưởng đến cộng đồng dân tộc Hoa ở Việt Nam, tuy nhiên ở Hội An chịu ảnh hưởng không nhiều. Các cuộc giao tranh về đường biên giới tiếp tục diễn ra vào thập kỷ 80, nhưng đến những năm 90 thì Việt Nam đã thiết lập hòa bình.
Trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, với những đóng góp lớn lao của mình, Đảng bộ và nhân dân Hội An đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân” vào ngày 22 – 8 – 1998. Cả thành phố đến nay đã được Nhà nước phong tặng 175 danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”, 6 xã, 2 đơn vị vũ trang và 15 cá nhân được tuyên dương là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Hội An vốn là một đô thị thôn dã, yên tĩnh, nhưng đến khi Hội An đón nhận lượng khách du lịch đáng kể bắt đầu vào những năm cuối thập niên 80 mang lại nhiều sự đổi thay về kinh tế và dân số. Vào ngày 4 – 12 – 1999, Hội An được UNESCO công nhận là Khu di sản Thế giới và điều này đã giúp Hội An có nhiều cơ hội phát triển mạnh mẽ.
( Trích những ảnh hưởng của du lịch đối với văn hóa và môi trường ở Châu Á – Thái Bình Dương – Du lịch văn hóa và quản lý di sản ở Di sản Thế giới – Hội An Việt Nam – Đô thị cổ - Trung tâm quản lý Bảo tồn Di tích Hội An năm 2008).
Chú thích:
1/ Nguyễn Đình Đầu, trích trong Thích Đại Sán, tr 154.
2/Nguyễn Đình Đầu, trích trong Phan Khoang, tr 526 - 527
3/ Phan Huy Lê 2003, tr 28.
4/ Nguyễn Văn Hoan 2003, tr 248.
5/ Phan Huy Lê 2003, tr 28










