Hiệu quả của chính sách thuế môi trường ở Thuỵ Điển
Tình hình cơ bản thực thi thuế môi trường
Thuỵ Điển cùng với các nước láng giềng Bắc Âu là những nước đầu tiên của Liên minh Châu Âu, đã vận dụng rộng rãi thuế, phí và nhiều biện pháp kinh tế khác trong bảo vệ môi trường. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra đánh giá năm 2004 đối với các nước thành viên của tổ chức này thì Thuỵ Điển là nước vận dụng nhiều biện pháp kinh tế nhất trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Biện pháp kích thích bao gồm thu thuế, phí đối với chất thải (như CO 2, Nox, và SOx), thuế chất thải (như thuốc bảo vệ thực vật), thực thi chế độ hoàn trả tiền đặt cọc đối với hộp nhôm và hộp nhựa, thuế rác, phân biệt thu phí (phí tàu thuyền đường biển) và trợ cấp thêm (quỹ kỹ thuật nguồn năng lượng và đầu tư).. Trong các biện pháp kinh tế, thuế môi trường là một trong những biện pháp kinh tế vô cùng quan trọng, có tác dụng bảo vệ môi trường của Thuỵ Điển. Thuế CO 2, thuế lưu huỳnh (S) và thu phí NOx từ đầu những năm 90, cuối năm 90 thực thi cải cách thuế chôn lấp rác và thuế màu xanh. Nhiều loại thu thuế và thu phí của Thuỵ Điển liên quan với môi trường phát triển rất nhanh đồng thời dần dần đi đến hoàn thiện. Dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu hiệu quả của chính sách thuế môi trường ở Thuỵ Điển để bạn đọc tham khảo.
Chế độ thu thuế nguồn năng lượng môi trường
Khung chế độ thuế nguồn năng lượng - môi trường hiện hành của Thuỵ Điển chủ yếu do 3 bộ phận hợp thành là thuế nguồn năng lượng, thuế C và thuế S. Nhiên liệu dầu, than, khí đốt thiên nhiên đều phải nạp thuế nguồn năng lượng, nhưng đối với sản xuất điện lực và ngành công nghiệp thì miễn nạp thuế loại này. Mức thuế của các vùng khác nhau ở Thuỵ Điển cũng có sự khác nhau. Mức thuế của miền Bắc thấp hơn sơ với các nơi khác. Ngoài ra, thu thuế đặc biệt ngoài hạn ngạch đối với điện hạt nhân và thuỷ điện. Thu thuế S thì dựa vào lượng phát thải (nếu có thể đo được), hoặc căn cứ vào lượng chứa S của nhiên liệu mà định.
Năm 1992, Thuỵ Điển bắt đầu thu phí chất NOx của nguồn ô nhiễm cố định (phần lớn là nhà máy điện) đối với nhà máy có công suất năm 50 triệu kWh trở lên. Chế độ thu phí này là thu theo lượng thải của NOx. Đồng thời thu phí phản hồi trở lại người sản xuất nguồn năng lượng theo số lượng của nguồn năng lượng sản xuất. Cũng có nghĩa là nếu một đơn chất thải ô nhiễm của người sản xuất thải ra thấp hơn mức trung bình, thì có thể thu được lợi ròng từ trong chế độ phản hồi thu phí này; ngược lại, nếu đơn vị lượng thải của người sản xuất cao hơn mức trung bình sẽ tạo ra giá thành ròng. Xuất phát từ nghiên cứu nhỏ hoá nhất giá thành hoặc lớn hoá nhất lợi nhuận, người sản xuất sẽ cố gắng giảm đơn vị lượng thải NOx để thu được lợi ích ròng. Nhiều nhà sản xuất cùng hành động sẽ giảm đơn vị lượng thải từ trong mức tổng thể. Từ năm 1996, chế độ thu phí này đã dùng cho nhà máy điện loại nhỏ có công suất phát điện là 25 - 50 triệu kWh. Toàn bộ quá trình chia ra làm hai bước, bước thứ nhất bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm 1996, giới hạn thu phí từ công suất năm là 50 triệu kWh giảm xuống đến 40 triệu kWh; bước thứ hai bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm 1997, giới hạn thu phí giảm xuống đến công suất năm là 25 triệu kWh. Hiện nay, chế độ thu phí chất NOx đã phủ kín hơn 400 đơn vị sản xuất trên đất nước Thuỵ Điển.
Tác dụng của thuế nguồn năng lượng - môi trường
Tác dụng trước tiên của thuế môi trường là thông qua thay đổi hành vi của mọi người mà làm cho môi trường được cải thiện. Thứ hai là môi trường được bảo vệ và tăng nguồn thu thuế.
Hiệu quả lợi ích môi trường
Theo báo cáo về biến đổi khí hậu của Cục Bảo vệ môi trường Nhà nước, năm 1997 số lượng phát thải CO2 của Thuỵ Điển đã giảm xuống 15% so với lượng thải năm 1995, trong đó gần 90% lượng phát thải giảm xuống do cải cách thể chế thu thuế mang lại.
Thuế S Thuỵ Điển thực hiện năm 1991 làm cho hàm lượng S của nhiên liệu dầu mỏ giảm xuống thấp hơn 50% tiêu chuẩn quy định, hàm lượng S của dầu nhẹ cũng giảm thấp hơn 0,076% (thấp hơn một nửa giới hạn quy định (0,2%), đồng thời kích thích nhà máy sử dụng nhiên liệu áp dụng các biện pháp giảm thải ô nhiễm. Theo tài liệu thống kê của Thuỵ Điển, do thực hiện thuế S trong thời gian 1989 - 1995, lượng thải chất ô nhiễm S đã giảm xuống khoảng 30% (khoảng 45 ngàn tấn) so với lượng thải năm 1989. Ngoài ra, do đưa vào thuế nhiên liệu mà mỗi năm lượng SO2 đã giảm xuống 19 ngàn tấn.
Thu phí chất thải NOx buộc các doanh nghiệp phải áp dụng các biện pháp giảm lượng thải NOx xuống 35% trong thời gian 1990 - 1992. Trong thời gian 1990 đến 1995 mỗi năm sản xuất ra 1 triệu Jun nguồn năng lượng, chất NOx thải ra đã giảm được 60%, trong đó 80% công lao thuộc về chế độ thu phí NOx.
Để khuyến khích giảm ô nhiễm sử dụng nhiên liệu, năm 1991 Thuỵ Điển đã thực hiện thuế chênh lệch. Trong năm 1992-1996 tỉ lệ dầu điezen sạch trong tiêu thụ dầu diezen đã từ 1% tăng lên 85% lượng phát thải S của xe động cơ diezen bình quân giảm 75%. Thu thuế chênh lệch đối với xăng chứa chì và xăng không chì làm cho xăng chứa chì biến mất trên thị trường Thuỵ Điển. Năm 1994, Thuỵ Điển căn cứ vào hàm lượng S, P, Phenol bay hơi đã thực hiện mức thuế khác nhau đối với hai loại xăng không chì làm cho lượng xăng gây ô nhiễm tương đối nghiêm trọng giảm xuống dần.
Hiệu quả lợi ích kinh tế
Theo số liệu của Cục Bảo vệ môi trường năm 2005, mỗi năm Thuỵ Điển thu được khoảng 68 tỷ cuaron (bằng 7 tỷ Euro) từ thuế, phí liên quan với môi trường, trong đó phần lớn (khoảng 95%) thuế, phí từ ngành vận tải, và ngành năng lượng, như thuế nguồn năng lượng, thuế CO2, thuế S… Thuế môi trường của Thuỵ Điển từ năm 1999-2004 có xu thế tăng dần hàng năm, thuế năng lượng chiếm tỷ lệ lớn nhất (gần 90%) trong thuế môi trường. Thuế môi trường chiếm khoảng 3% GDP của Thuỵ Điển.
Triển vọng chính sách kinh tế môi trường
Phát triển thêm một bước thu thuế màu xanh
Xây dựng từng bước hệ thống thu thuế môi trường của Thuỵ Điển trên thực tế là phát triển "thu thuế màu xanh". Gọi là "thu thuế màu xanh" tức là nâng cao thuế môi trường, dùng tăng thu nhập thuế môi trường thay cho thu thuế có hiệu ứng biến dạng trong hệ thống kinh tế (như thuế lợi tức…). Nâng cao thuế môi trường, đặc biệt là thuế nguồn năng lượng sẽ khống chế phát thải ô nhiễm, có lợi cho bảo vệ môi trường. Lấy thuế môi trường thay cho thuế lợi tức, sẽ nâng cao hiệu quả chế độ thuế, đây gọi là "lãi kép".
Mục đích chủ yếu của Chính phủ Thuỵ Điển thực hiện thu thuế màu xanh là nhằm giảm bớt lượng thải CO2 và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn năng lượng.
Trong thời gian từ năm 2001 - 2010 kế hoạch của Chính phủ Thuỵ Điển là sẽ lấy 30 tỷ cu-ron (bằng 3,3 tỷ euro) gánh nặng thu thuế chuyển đổi thành thu thuế màu xanh. Mức độ di chuyển của gánh nặng thu thuế thời kỳ xa hơn Thuỵ Điển sẽ căn cứ vào mục tiêu môi trường của Thuỵ Điển để lập ra. Lấy năm 2004 làm ví dụ, mục tiêu của Chính phủ Thuỵ Điển là hoàn thành chuyển đổi thu thuế 2 tỷ cu-ron. Các biện pháp cụ thể như sau: mỗi năm giảm thu thuế 200 cu-ron cho cá nhân nạp thuế lợi tức; giảm 12% tiền bảo hiểm xã hội của chủ thuê nộp; tăng mức thuế C của mỗi kg CO2 lên 18%; nâng thuế mỗi lít dầu diezen lên 0,1 cu-ron; nâng thuế điện lực của hộ dân cư và các ngành thương mại khác lên 0,01 cu-ron/kWh; nâng thuế thuốc bảo vệ thực vật cho mỗi kg thành phần có hiệu quả lên 10 cu-ron. Mục tiêu hạn ngạch năm 2005 của Chính phủ Thuỵ Điển là 3,4 tỷ cu-ron, mục tiêu hạn ngạch năm 2006 là 3,6 tỷ cu-ron.








