Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 15/10/2010 18:05 (GMT+7)

Hiệu quả của chính sách thuế môi trường ở Thuỵ Điển

Tình hình cơ bản thực thi thuế môi trường

Thuỵ Điển cùng với các nước láng giềng Bắc Âu là những nước đầu tiên của Liên minh Châu Âu, đã vận dụng rộng rãi thuế, phí và nhiều biện pháp kinh tế khác trong bảo vệ môi trường. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra đánh giá năm 2004 đối với các nước thành viên của tổ chức này thì Thuỵ Điển là nước vận dụng nhiều biện pháp kinh tế nhất trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Biện pháp kích thích bao gồm thu thuế, phí đối với chất thải (như CO 2, Nox, và SOx), thuế chất thải (như thuốc bảo vệ thực vật), thực thi chế độ hoàn trả tiền đặt cọc đối với hộp nhôm và hộp nhựa, thuế rác, phân biệt thu phí (phí tàu thuyền đường biển) và trợ cấp thêm (quỹ kỹ thuật nguồn năng lượng và đầu tư).. Trong các biện pháp kinh tế, thuế môi trường là một trong những biện pháp kinh tế vô cùng quan trọng, có tác dụng bảo vệ môi trường của Thuỵ Điển. Thuế CO 2, thuế lưu huỳnh (S) và thu phí NOx từ đầu những năm 90, cuối năm 90 thực thi cải cách thuế chôn lấp rác và thuế màu xanh. Nhiều loại thu thuế và thu phí của Thuỵ Điển liên quan với môi trường phát triển rất nhanh đồng thời dần dần đi đến hoàn thiện. Dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu hiệu quả của chính sách thuế môi trường ở Thuỵ Điển để bạn đọc tham khảo.

Chế độ thu thuế nguồn năng lượng môi trường

Khung chế độ thuế nguồn năng lượng - môi trường hiện hành của Thuỵ Điển chủ yếu do 3 bộ phận hợp thành là thuế nguồn năng lượng, thuế C và thuế S. Nhiên liệu dầu, than, khí đốt thiên nhiên đều phải nạp thuế nguồn năng lượng, nhưng đối với sản xuất điện lực và ngành công nghiệp thì miễn nạp thuế loại này. Mức thuế của các vùng khác nhau ở Thuỵ Điển cũng có sự khác nhau. Mức thuế của miền Bắc thấp hơn sơ với các nơi khác. Ngoài ra, thu thuế đặc biệt ngoài hạn ngạch đối với điện hạt nhân và thuỷ điện. Thu thuế S thì dựa vào lượng phát thải (nếu có thể đo được), hoặc căn cứ vào lượng chứa S của nhiên liệu mà định.

Năm 1992, Thuỵ Điển bắt đầu thu phí chất NOx của nguồn ô nhiễm cố định (phần lớn là nhà máy điện) đối với nhà máy có công suất năm 50 triệu kWh trở lên. Chế độ thu phí này là thu theo lượng thải của NOx. Đồng thời thu phí phản hồi trở lại người sản xuất nguồn năng lượng theo số lượng của nguồn năng lượng sản xuất. Cũng có nghĩa là nếu một đơn chất thải ô nhiễm của người sản xuất thải ra thấp hơn mức trung bình, thì có thể thu được lợi ròng từ trong chế độ phản hồi thu phí này; ngược lại, nếu đơn vị lượng thải của người sản xuất cao hơn mức trung bình sẽ tạo ra giá thành ròng. Xuất phát từ nghiên cứu nhỏ hoá nhất giá thành hoặc lớn hoá nhất lợi nhuận, người sản xuất sẽ cố gắng giảm đơn vị lượng thải NOx để thu được lợi ích ròng. Nhiều nhà sản xuất cùng hành động sẽ giảm đơn vị lượng thải từ trong mức tổng thể. Từ năm 1996, chế độ thu phí này đã dùng cho nhà máy điện loại nhỏ có công suất phát điện là 25 - 50 triệu kWh. Toàn bộ quá trình chia ra làm hai bước, bước thứ nhất bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm 1996, giới hạn thu phí từ công suất năm là 50 triệu kWh giảm xuống đến 40 triệu kWh; bước thứ hai bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm 1997, giới hạn thu phí giảm xuống đến công suất năm là 25 triệu kWh. Hiện nay, chế độ thu phí chất NOx đã phủ kín hơn 400 đơn vị sản xuất trên đất nước Thuỵ Điển.

Tác dụng của thuế nguồn năng lượng - môi trường

Tác dụng trước tiên của thuế môi trường là thông qua thay đổi hành vi của mọi người mà làm cho môi trường được cải thiện. Thứ hai là môi trường được bảo vệ và tăng nguồn thu thuế.

Hiệu quả lợi ích môi trường

Theo báo cáo về biến đổi khí hậu của Cục Bảo vệ môi trường Nhà nước, năm 1997 số lượng phát thải CO2 của Thuỵ Điển đã giảm xuống 15% so với lượng thải năm 1995, trong đó gần 90% lượng phát thải giảm xuống do cải cách thể chế thu thuế mang lại.

Thuế S Thuỵ Điển thực hiện năm 1991 làm cho hàm lượng S của nhiên liệu dầu mỏ giảm xuống thấp hơn 50% tiêu chuẩn quy định, hàm lượng S của dầu nhẹ cũng giảm thấp hơn 0,076% (thấp hơn một nửa giới hạn quy định (0,2%), đồng thời kích thích nhà máy sử dụng nhiên liệu áp dụng các biện pháp giảm thải ô nhiễm. Theo tài liệu thống kê của Thuỵ Điển, do thực hiện thuế S trong thời gian 1989 - 1995, lượng thải chất ô nhiễm S đã giảm xuống khoảng 30% (khoảng 45 ngàn tấn) so với lượng thải năm 1989. Ngoài ra, do đưa vào thuế nhiên liệu mà mỗi năm lượng SO2 đã giảm xuống 19 ngàn tấn.

Thu phí chất thải NOx buộc các doanh nghiệp phải áp dụng các biện pháp giảm lượng thải NOx xuống 35% trong thời gian 1990 - 1992. Trong thời gian 1990 đến 1995 mỗi năm sản xuất ra 1 triệu Jun nguồn năng lượng, chất NOx thải ra đã giảm được 60%, trong đó 80% công lao thuộc về chế độ thu phí NOx.

Để khuyến khích giảm ô nhiễm sử dụng nhiên liệu, năm 1991 Thuỵ Điển đã thực hiện thuế chênh lệch. Trong năm 1992-1996 tỉ lệ dầu điezen sạch trong tiêu thụ dầu diezen đã từ 1% tăng lên 85% lượng phát thải S của xe động cơ diezen bình quân giảm 75%. Thu thuế chênh lệch đối với xăng chứa chì và xăng không chì làm cho xăng chứa chì biến mất trên thị trường Thuỵ Điển. Năm 1994, Thuỵ Điển căn cứ vào hàm lượng S, P, Phenol bay hơi đã thực hiện mức thuế khác nhau đối với hai loại xăng không chì làm cho lượng xăng gây ô nhiễm tương đối nghiêm trọng giảm xuống dần.

Hiệu quả lợi ích kinh tế

Theo số liệu của Cục Bảo vệ môi trường năm 2005, mỗi năm Thuỵ Điển thu được khoảng 68 tỷ cuaron (bằng 7 tỷ Euro) từ thuế, phí liên quan với môi trường, trong đó phần lớn (khoảng 95%) thuế, phí từ ngành vận tải, và ngành năng lượng, như thuế nguồn năng lượng, thuế CO2, thuế S… Thuế môi trường của Thuỵ Điển từ năm 1999-2004 có xu thế tăng dần hàng năm, thuế năng lượng chiếm tỷ lệ lớn nhất (gần 90%) trong thuế môi trường. Thuế môi trường chiếm khoảng 3% GDP của Thuỵ Điển.

Triển vọng chính sách kinh tế môi trường

Phát triển thêm một bước thu thuế màu xanh

Xây dựng từng bước hệ thống thu thuế môi trường của Thuỵ Điển trên thực tế là phát triển "thu thuế màu xanh". Gọi là "thu thuế màu xanh" tức là nâng cao thuế môi trường, dùng tăng thu nhập thuế môi trường thay cho thu thuế có hiệu ứng biến dạng trong hệ thống kinh tế (như thuế lợi tức…). Nâng cao thuế môi trường, đặc biệt là thuế nguồn năng lượng sẽ khống chế phát thải ô nhiễm, có lợi cho bảo vệ môi trường. Lấy thuế môi trường thay cho thuế lợi tức, sẽ nâng cao hiệu quả chế độ thuế, đây gọi là "lãi kép".

Mục đích chủ yếu của Chính phủ Thuỵ Điển thực hiện thu thuế màu xanh là nhằm giảm bớt lượng thải CO2 và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn năng lượng.

Trong thời gian từ năm 2001 - 2010 kế hoạch của Chính phủ Thuỵ Điển là sẽ lấy 30 tỷ cu-ron (bằng 3,3 tỷ euro) gánh nặng thu thuế chuyển đổi thành thu thuế màu xanh. Mức độ di chuyển của gánh nặng thu thuế thời kỳ xa hơn Thuỵ Điển sẽ căn cứ vào mục tiêu môi trường của Thuỵ Điển để lập ra. Lấy năm 2004 làm ví dụ, mục tiêu của Chính phủ Thuỵ Điển là hoàn thành chuyển đổi thu thuế 2 tỷ cu-ron. Các biện pháp cụ thể như sau: mỗi năm giảm thu thuế 200 cu-ron cho cá nhân nạp thuế lợi tức; giảm 12% tiền bảo hiểm xã hội của chủ thuê nộp; tăng mức thuế C của mỗi kg CO2 lên 18%; nâng thuế mỗi lít dầu diezen lên 0,1 cu-ron; nâng thuế điện lực của hộ dân cư và các ngành thương mại khác lên 0,01 cu-ron/kWh; nâng thuế thuốc bảo vệ thực vật cho mỗi kg thành phần có hiệu quả lên 10 cu-ron. Mục tiêu hạn ngạch năm 2005 của Chính phủ Thuỵ Điển là 3,4 tỷ cu-ron, mục tiêu hạn ngạch năm 2006 là 3,6 tỷ cu-ron.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.