Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 08/09/2005 15:05 (GMT+7)

Hai mô hình phát triển rau sạch

Việc sản xuất nông  nghiệp sạch nói chung và rau sạch nói riêng hiện nay thật sự là yêu cầu cấp bách không những của người tiêu dùng (vì sức khỏe của họ) mà còn vì lợi ích của người sản xuất (vì sự tiêu thụ và thu nhập của họ) cũng như yêu cầu của người quản lý, của xã hội (vì sức khỏe cộng đồng và sự bền vững của môi trường). Vì vậy không có gì lạ khi Nhà nước, ngành nông nghiệp và địa phương, có nhiều chủ trương, giải pháp nhanh chóng phát triển rau sạch. Ðã có những thành công và cũng có những thất bại. Thậm chí có nơi làm theo  kiểu phong trào, theo "mốt".

Qua theo dõi chúng tôi thấy có hai loại hình chủ yếu trong phát triển rau sạch hiện nay ở nước ta:

Thứ nhất là, mô hình rau sạch trên diện tích  hẹp với đầu tư cao, chủ yếu là đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật. Ðó là trồng rau sạch trong nhà kính, nhà lưới, trồng rau sạch thủy canh...

Ưu điểm của mô hình này là có thể trồng rau sạch trái vụ, cho năng suất cao, tránh được những bất lợi do thời tiết (mưa, gió lớn) phù hợp chủ yếu với rau ăn lá và rau cao cấp phục vụ một số yêu cầu khắt khe, cao cấp của người tiêu dùng.

Khiếm khuyết lớn nhất của mô hình này là quy mô thường nhỏ, do vậy số người tham gia sản xuất ít, sản lượng rau sạch nhỏ, không đáp ứng được đông đảo cộng đồng người tiêu dùng, tác động bảo vệ môi trường hạn chế, giá thành cao, hơn nữa đầu tư khá cao (cho 1 ha nhà lưới từ 250 đến 300 triệu đồng, cho nhà kính hàng tỷ đồng) nên khó mở rộng.

Do vậy mô hình này chỉ nên phát triển có chọn lọc trước hết là làm rau sạch hữu cơ rau trái vụ, rau giống, rau cao cấp cho những nhu cầu đã được đặt. Mô hình này cũng không phù hợp khí hậu, thời tiết nước ta, sự không thành công của mô hình nhà lưới ở một số thành phố, tỉnh thời gian qua cũng cho thấy điều đó.

Thứ hai là, mô hình phát triển rau sạch đại trà ngoài đồng trên diện rộng, đầu tư không cao chủ yếu là đầu tư kỹ thuật, huấn luyện nông dân, nhược điểm chủ yếu là không trồng được rau trái vụ, hay bị tác động bất lợi của thời tiết nhưng ưu điểm lớn là nhiều nông dân biết cách và tham gia trồng rau sạch, diện tích và sản lượng lớn nên đáp ứng được yêu cầu của cộng đồng tiêu dùng, khai thác được các ưu thế của thời tiết nhiệt đới, giá thành thấp (thường gần bằng giá rau thông thường hoặc tăng không quá 10%) tác động tích cực nhanh và rộng đến nông nghiệp, môi trường và cộng đồng xã hội, dễ mở rộng quy mô sản xuất.

Ðây được gọi là mô hình "sản xuất rau sạch cộng đồng" đã được nghiên cứu ứng dụng và khởi xướng, từ tỉnh Vĩnh Phúc thời kỳ 2000 - 2003, từ đó lan ra khá nhiều địa phương (Hà Nội, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Hà Nam, Hải Dương, Khánh Hòa...) và tỏ ra thích hợp, có hiệu quả.

Ở Vĩnh Phúc một tỉnh có diện tích rau hằng năm khoảng 7.000 ha, sản lượng gần 12 - 15 vạn tấn/năm, ở thời điểm 1999 - 2003, đã có một vùng rau sạch cộng đồng 500 ha, sản lượng 1,5 vạn tấn/năm với sự tham gia của chín nghìn hộ nông dân. 95% số hộ nông dân trong vùng áp dụng tốt kỹ thuật, tỷ lệ rau đạt tiêu chuẩn RAT trong vùng đã tăng từ 35 đến 40% lên 90 - 95%, mức đầu tư cho một ha rau an toàn (phần hỗ trợ của dự án) khoảng ba triệu đồng/ba năm, hình thành bước đầu cơ chế quản lý và giám sát chất lượng rau sạch trong khâu sản xuất, lợi ích người trồng rau sạch được đảm bảo, kể cả khi bán theo giá rau chợ vẫn cho lãi khoảng một triệu/ha.

Rõ ràng, trong điều kiện sản xuất, tiêu dùng khả năng đầu tư, trình độ nông dân của chúng ta hiện nay, cần tập trung nhanh chóng phát triển mô hình "rau sạch cộng đồng".

Mô hình phát triển rau sạch cộng đồng "RSCÐ" có một số đặc điểm đó là:

Ba tính chất cộng đồng: cộng đồng về sản xuất, cộng đồng về tiêu dùng, cộng đồng về lợi ích.

Năm đặc điểm của RSCÐ: sản xuất rau sạch (RS) đại trà ngoài đồng trên diện tích lớn; đầu tư kỹ thuật là chủ yếu; bảo đảm lợi ích cả của người trồng rau lẫn người tiêu dùng rau và xã hội; phương thức chuyên gia kỹ thuật phải đơn giản dễ tiếp thụ, dễ áp dụng; quản lý chất lượng ở khâu sản xuất là chủ yếu.

Năm nội dung kỹ thuật chủ yếu của RSCÐ: Áp dụng các biện pháp canh tác truyền thống và thâm canh phù hợp yêu cầu RSCÐ; áp dụng công nghệ IPM rau; ứng dụng công nghệ vi sinh hữu hiệu EM và các chế phẩm sinh học BVTV thay thế dần hóa chất nông nghiệp; sử dụng nông dược hợp lý và an toàn; thực hiện "5 điều cấm trong sản xuất rau sạch" (cấm sử dụng phân tưới, nước giải tưới; cấm sử dụng nước bẩn, cấm bón quá 200 kg N/ha; cấm dùng thuốc BVTV độc hại cao; cấm sử dụng hóa chất nông nghiệp trong vòng 10 ngày trước thu hoạch).

Bốn nội dung quản lý chủ yếu trong sản xuất RSCÐ: Quy hoạch vùng sản xuất RSCÐ, mỗi xã trong vùng có một cán bộ kỹ thuật rau sạch, cứ 10 ha RS có một kỹ thuật viên RS; tăng cường việc quản lý kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV và vật tư nông nghiệp trong vùng; xây dựng một cơ chế quản lý giám sát chất lượng sản xuất RS; gắn kết các đơn vị sản xuất RS với các đơn vị kinh doanh, tiêu thụ RS cũng như cơ quan QLNN và chỉ đạo sản xuất.

Phát triển rau sạch là định hướng đúng trong sản xuất nông nghiệp, cần được đẩy mạnh ở nước ta. Vấn đề là lựa chọn mô hình nào vừa bảo đảm lợi ích lâu dài của người sản xuất, người tiêu dùng, môi trường và xã hội.

                               Nguồn: Nhân Dân, 27/08/2005

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Sơ kết công tác thi đua, khen thưởng 6 tháng đầu năm Cụm thi đua các tỉnh Trung du và Đồng bằng sông Hồng
Chiều ngày 17/6/2026, tại khu du lịch Hải Tiến, tỉnh Thanh Hóa, Cụm thi đua các tỉnh Trung du và Đồng bằng sông Hồng thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức hội nghị Sơ kết công tác thi đua, khen thưởng 6 tháng đầu năm 2026; triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Liên hiệp Hội Việt Nam thúc đẩy các hoạt động khoa học công nghệ tại Hải Phòng
Sáng 18/6/2026, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) thành phố Hải Phòng, Đoàn công tác của Liên hiệp Hội Việt Nam do PGS.TS Phạm Quang Thao, Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam làm Trưởng đoàn đã có buổi làm việc với Uỷ ban MTTQ Việt Nam thành phố, một số sở ngành và Liên hiệp Hội thành phố Hải Phòng.
Lào cai: Đối thoại trực tiếp giữa ngân hàng và hợp tác xã nhằm thúc đẩy tín dụng xanh
Ngày 18/6/2026, tại xã Lục Yên, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai phối hợp cùng Trung tâm Phát triển Khoa học công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng (YENBAI CDSH) tổ chức hội thảo chuyên đề “Phát huy vai trò của các tổ chức tài chính trong thúc đẩy xanh hóa tín dụng và phát triển kinh tế xanh”.
Nâng cao chất lượng công tác tổ chức Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật, Cuộc thi sáng tạo Thanh thiếu niên nhi đồng
Ngày 18/6/2026 tại tỉnh Thanh Hóa, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ đã tổ chức Hội thảo khoa học “Nâng cao chất lượng công tác tổ chức Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật, Cuộc thi sáng tạo Thanh thiếu niên nhi đồng cấp Trung ương, cấp tỉnh gắn với triển khai các giải pháp về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và xây dựng chính quyền địa phương 2 cấp”.