GS.TSKH Tô Ngọc Thanh: “Chúng tôi muốn trả lại lịch sử những gì lịch sử để lại cho chúng ta”
PV:Thưa Giáo sư, suốt mấy chục năm qua những người làm công tác nghiên cứu văn hóa dân gian đã đặt ra cho mình nhiệm vụ không đơn giản “trả lại cho lịch sử những gì lịch sử để lại”?
- Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam (VNDG VN) ra đời đúng vào những ngày đế quốc Mỹ đang đánh phá miền bắc dữ dội. Bình luận về sự kiện này, Ðài BBC lúc đó nói, đại ý: Cộng sản Bắc Việt vừa nhóm họp Ðại hội để thành lập một hội đoàn mà nhiệm vụ chuyên về sưu tầm, gìn giữ di sản văn hóa truyền thống của Việt Nam . Ðiều này cho thấy họ nắm rất chắc thắng lợi của mình dù không lực Hoa Kỳ đang ngày đêm oanh tạc thành phố và làng mạc của họ.
Nhắc lại điều này để thấy rằng, hoạt động của Hội, ngay từ khi ra đời là nhằm hướng đến phục vụ cho sự phát triển của xã hội. Nhiệm vụ của Hội là sưu tầm, nghiên cứu và phổ biến, truyền dạy vốn văn hóa văn nghệ dân gian các dân tộc. Nghĩa là đối tượng của chúng tôi chủ yếu là cái đã qua, những di sản của cha ông. Chúng tôi phải sưu tầm, khôi phục, làm tư liệu... để góp phần trả lời cho câu hỏi lớn của con người Việt Nam : Tôi là ai? Có thể những việc chúng tôi làm chưa đem lại lợi ích trước mắt, nhưng lại có ý nghĩa rất lâu dài, là trách nhiệm với quá khứ và cho cả tương lai.
PV:Sau 40 năm, các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian đã “trả lại cho lịch sử” những gì ?
GS.TSKH Tô Ngọc Thanh:Trong thời kỳ các năm từ 1967 đến 1989, do nhiều điều kiện khách quan, hoạt động của Hội không duy trì được liên tục, nhưng ngay từ ngày ấy đến nay, các hội viên vẫn tự mình thực hiện hàng nghìn công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian các dân tộc Việt Nam, trong đó có nhiều công trình rất có giá trị, được phổ biến và tạo ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội.
Xin nêu một vài công trình làm thí dụ: “Thi pháp ca dao” của GS.TS Nguyễn Xuân Kính, “Văn học dân gian người Việt - Góc nhìn thể loại” của GS.TS Kiều Thu Hoạch, “Văn hóa dân gian - Mấy vấn đề phương pháp luận và nghiên cứu thể loại” của PGS Chu Xuân Diên, “Khủn Chưởng - Anh hùng ca Thái” của GS. TSKH Phan Ðăng Nhật, “Phong tục đạo lý Mường” của Bùi Thiện, dân tộc Mường, “Dân ca - dân nhạc Rak Glây” của Nguyễn Hải Liên, “Lời tang lễ của dân tộc Thái” của Hoàng Trần Nghịch, dân tộc Thái, “Bì tà háy và Bi giềng hà miền” của Vì Văn Nèn, dân tộc Xinh Mun, v.v...
Từ 1990 đến nay, hoạt động của Hội có nhiều khởi sắc. Chúng tôi đã tập trung xây dựng được một đội ngũ các nhà nghiên cứu và cộng tác viên có trình độ ở khắp các tỉnh, thành trong cả nước. Ðặc biệt là đội ngũ cán bộ ở các địa phương, trong đó có nhiều cán bộ là người dân tộc thiểu số. Chính họ mới là những người hiểu và nắm bắt nhanh nhất, chính xác nhất những giá trị văn hóa dân gian còn lưu giữ trong đời sống các cộng đồng. Ðối với chúng tôi việc huy động người trong cuộc tham gia công việc là một tầm nhìn chiến lược. Quyết sách này của Hội đã thu được hiệu quả cao, huy động được tài lực của các địa phương, trong điều kiện cán bộ chuyên nghiệp và kinh phí đều hạn hẹp, mà vốn văn hóa dân gian lại đòi hỏi phải cấp bách lưu giữ.
Ðặc biệt, từ năm 2000, Hội đề ra kế hoạch hành động “Tầm nhìn 2010”, tập trung toàn bộ nhân tài, vật lực của Hội để thống kê và phần nào bảo lưu những giá trị văn hóa dân gian đang có nguy cơ mai một, thất truyền theo sự ra đi của các nghệ nhân - những người lưu giữ các giá trị văn hóa văn nghệ truyền thống. Ðến nay, chúng tôi đã hoàn thành công tác kiểm kê di sản văn hóa văn nghệ dân gian các tộc người trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, và khôi phục, truyền dạy vốn văn hóa văn nghệ truyền thống cho lớp trẻ một số địa phương, như: Chèo Tầu, Hát Dô, Hò Cửa đình và Múa hát Bài bông, Ca trù (Hà Tây), Hát Xoan (Phú Thọ), lễ cấp sắc của người Dao (Thái Nguyên), hát kể sử thi và chơi cồng chiêng (Ðác Lắc)... Ðồng thời chúng tôi đã khởi xướng và tiến hành việc phong tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian cho 100 nghệ nhân các dân tộc. Hội còn tham gia tích cực trong việc soạn thảo và hoàn thiện hồ sơ về Nhã nhạc cung đình Huế và Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đề nghị UNESCO công nhận là Kiệt tác văn hóa truyền miệng và phi vật thể của nhân loại.
PV:Thưa Giáo sư, dường như, công tác nghiên cứu văn hóa văn nghệ dân gian lại chưa thu hút sự quan tâm xứng đáng của xã hội?
GS,TSKH Tô Ngọc Thanh:Như tôi đã nói ở trên, việc chúng tôi làm có thể chưa đem lại lợi ích trước mắt, trong khi con người ngày nay đang bị choáng ngợp bởi làm ăn kinh tế, lỗ lãi... Làm nghề này thường hoạt động độc lập, nhiều khi phải lang thang xuống ở với dân hàng mấy tháng trời để làm đề tài, mà “đồng tiền bát gạo” lại hẻo, thậm chí không có, nên chỉ có những người tâm huyết mới làm được thôi. Thêm một cái khó nữa là, các nhà khảo cổ thì tìm văn hóa trong lòng đất, còn chúng tôi lại “khảo cổ” trong tâm hồn, tìm văn hóa trong tâm hồn, trí tuệ con người. Muốn thế, phải là người của dân, thì dân mới cho, chứ không ai có thể ra lệnh cho người dân phải mở cửa tâm hồn mình cho người khác cả. Khó lắm. Nên một nhà khoa học văn nghệ dân gian phải vừa là một nhà khoa học, lại vừa phải là một người làm công tác quần chúng tốt mới được.
PV:Phải chăng vì nhiều cái khó như vậy, cho nên đội ngũ những người làm công tác nghiên cứu văn hóa văn nghệ dân gian ít ỏi?
GS,TSKH Tô Ngọc Thanh:Cho đến hôm nay, đội ngũ chúng tôi đang có 1.104 người, người nhiều tuổi nhất là 90, và người trẻ nhất là 26 tuổi, trong đó có rất nhiều hội viên là người dân tộc thiểu số. Ðó là chưa kể hàng nghìn cộng tác viên rất năng nổ, nhiệt huyết với công việc ở khắp các vùng miền. Hầu hết trong số họ được đào tạo tốt, có trình độ và được hỗ trợ phương tiện kỹ thuật hiện đại hơn rất nhiều so với thời kỳ lớp những người như chúng tôi bước vào nghề. Họ tiến nhanh lắm, chỉ mất khoảng chục năm là có thể đạt đến trình độ mà lớp chúng tôi ngày trước phải trả giá bằng mấy chục năm khổ luyện.
Trên giá sách của tôi có rất nhiều công trình nghiên cứu của các bạn trẻ hôm nay. Họ giỏi, và điều đáng mừng là số đó không phải ít. Họ bám cuộc sống rất kỹ, và sẵn sàng lăn xả, cống hiến hết mình cho khoa học.
PV:Chương trình hành động Tầm nhìn 2010 sẽ được giải quyết như thế nào, khi quỹ thời gian thực tế không còn nhiều?
GS,TSKH Tô Ngọc Thanh:Chúng tôi sắp in danh mục các di sản văn nghệ dân gian các dân tộc Việt Nam , có thể đến hàng nghìn trang. Song chắc chắn đó chưa phải là toàn bộ di sản mà chúng ta có. Chúng tôi đang chạy đua với thời gian, bởi chỉ trong mấy năm nữa thôi, thì các giá trị còn tiềm ẩn cũng sẽ thất truyền cùng với sự ra đi của các nghệ nhân, đều đã rất cao tuổi. Chúng tôi sẽ cố gắng hết sức, để gìn giữ những báu vật của dân tộc, cho muôn đời sau.
PV:Xin cảm ơn ông.








