Góc nhìn từ người trồng lúa - Những vấn đề về sản xuất lúa
Nếu nhìn vào cả quá trình sản xuất lúa từ hồi Pháp thuộc tới nay, chúng ta rất đáng tự hào về kết quả sản xuất: Năm 1898 diện tích gieo trồng lúa có 4,6 triệu ha, sản lượng thóc có 5,5 triệu tấn, vì có năng suất rất thấp: 1,2 tấn/ha! Sau giải phóng (1976), năng suất và sản lượng lúa tăng gấp đôi; sau đổi mới tăng gấp 3, gấp 4. Đến đầu thế kỷ thứ 21 này, mặc dầu diện tích có giảm, nhưng năng suất tăng gấp khoảng 5 lần, sản lượng tăng gấp 7, gấp 8! và đạt trên 38 triệu tấn thóc. Bảng l: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa.
Năm | Diện tích (triệu ha) | Năng suất (tấn/ha) | Sản lượng (triệu tấn) |
1878 | 4.6 | 1.2 | 5.5 |
1930 | 4.3 | 1.2 | 5.2 |
1939 | 4.3 | 1.3 | 6.7 |
1944 | 4.6 | 1.1 | 4.9 |
1955 | 4.1 | 1.4 | 6.1 |
1960 | 4.8 | 2.0 | 9.5 |
1976 | 5.3 | 2.4 | 10.5 |
1980 | 5.6 | 2.1 | 10.3 |
1985 | 5.7 | 2.8 | 15.9 |
1990 | 6.0 | 3.2 | 15.9 |
1995 | 6.7 | 3.7 | 22.0 |
2000 | 7.7 | 4.3 | 32.5 |
2005 | 7.3 | 4.9 | 35.8 |
2008 | 7.4 | 5.2 | 38.7 |
Nhận xét của GS.TS. Võ Tòng Xuân về sản xuất lúa ở đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) cũng tương tự: Sau 35 năm từ ngày giải phóng, sản lượng lúa tăng 4,15 lần, lợi tức tăng 5 - 7 lần. Lợi tức tính bình quân theo đầu người từ một vài trăm USD lên 500 đến 1.000 USD. Nhưng đại bộ phận nông dân không có tích lũy. Theo Ts. Đặng Kim Sơn, tính từ năm 2002, mức tích lũy trung bình của nông dân chỉ từ 0,8 đến 1 triệu đồng/năm. Lợi nhuận để đầu tư rất hiếm, trừ các trang trại và nông hộ có diện tích sản xuất lúa rộng.
Vị trí nông nghiệp, nhất là về sản xuất lúa cho an ninh lương thực (ANLT) được coi như "giá đỡ" cho nền kinh tế nước ta đứng vững qua đợt khủng hoảng kinh tế thế giới vừa qua. Từ lãnh đạo quốc gia, như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, đến các nhà khoa học, các ký giả, và chuyên gia trong và ngoài nước đều có những nhận định như trên. Thế nhưng, có lẽ "vị thế" còn mờ ảo, chung chiêng, thể hiện ở đời sống của nông dân, ở vốn đầu tư cho nông nghiệp còn "bèo". Thực trạng này đã được Đảng và Nhà nước thấy và đã có Nghĩ quyết 7 về nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Khó khăn nhất của nông dân là tiêu thụ nông sản, thì Nhà nước có Nghị quyết về bao tiêu sản phẩm; về mối liên kết "bốn nhà" để phát triển sản xuất.., mặc dầu những nghị quyết này đi vào cuộc sống còn ở bước đầu.
Đã có nhiều cách nhìn khác nhau từ phía nông dân đến những vấn đề phát triển sản xuất lúa, nhằm tham mưu với lãnh đạo làm sao để công bằng với nông dân.
GS. Võ Tòng Xuân cho rằng, nhiều bà con nông dân có thể là đã thoát nghèo, nhưng chưa giàu bằng những người mua nguyên liệu của mình sản xuất ra. Cũng như vậy đối với vật tư sản xuất. Nhiều ký giả nhận thấy thực trạng nông dân sống quắt queo, doanh nghiệp xuất khẩu gạo, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sống khỏe re.
Còn hiếm doanh nghiệp trích một phần tiền lời đầu tư lại cho nông dân qua hoạt động khuyến nông, trước hết là cách sử dụng sản phẩm mình bán ra hiệu quả nhất, khuyến y trước hết là biện pháp tự bảo vệ khỏi chất độc hóa học từ sản phẩm của doanh nghiệp, như Công ty Phân bón Đầu Trâu, Công ty Cổ phần BVTV An Giang. Được biết, Công ty BVTV An Giang cũng bức xúc với thực trạng tăng gấp đôi thuốc BVTV cung ứng ra thị trường trong vòng 20 năm qua, mà có những hoạt động thiết thực góp phần hạn chế việc sử dụng, như đã có cả một hệ thống nghiên cứu giống lúa kháng sâu bệnh, thực hiện "Chương trình cùng nông dân ra đồng với ba tăng ba giảm, "Bắc nhịp cầu nhà nông" giữa nông dân và nhà khoa học…
Một vấn đề được đặt ra là "có nên sản xuất lúa dư thừa" để như năm qua xuất khẩu được 6 triệu tấn gạo? Ta đâu có nhiệm vụ làm an ninh lương thực cho thế giới để nông dân ta phải oằn lưng sản xuất 2-3 vụ lúa/năm! Đồng thời, nhiều hoạt động có lời hơn sản xuất lúa, lại không vất vả 1 nắng 2 sương. Tổng doanh thu tròm trèm vài tỷ USD do xuất khẩu gạo chẳng thấm vào đâu so với thu nhập từ ngành du lịch ở vài nước quanh ta? Tôi còn nhớ, cách đây 5 - 6 năm, một chuyên gia ở thành phố Hồ Chí Minh phát biểu so sánh tương tự với sản xuất kinh doanh phần mềm máy tính. Sau đó ít hôm, có vị lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh phát biểu hàm ý sự so sánh đó khác nào như gạt nông dân, gạt người nghèo ra ngoài rìa xã hội, để quan tâm hơn đến những dự án thu lời nhiều mà nhẹ phần an sinh xã hội!
Về tăng 3 vụ lúa ở ĐBSCL, cũng có kiều bào với ý thức cao xây dựng quê hương, đã viết thư hỏi Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, hỏi chuyên gia trong nước. Như Ts. Trần Văn Đạt, chuyên gia của FAO về hưu tại Mỹ, sau khi hiểu tình hình ở quê là Tiền Giang và Vĩnh Long, Ts. Đạt đã phản hồi qua thư điện tử: ở những nơi có điều kiện làm thêm 1 vụ lúa để thu nhập thêm 5 - 7 triệu đồng/ha thì hiện nay chưa có hoạt động kinh doanh nào hơn, trồng mầu thì không bán được, lại khó bảo quản; trong khi, năng suất và sản lượng lúa năm sau luôn cao hơn năm trước. Diện tích làm 3 vụ lúa khoảng 23 - 25% hay 4 - 5 triệu ha, sau khi có khuyến cáo lại làm 3 vụ, diện tích chưa có tăng thêm. GS.TS. Bùi Chí Bửu cho biết, hiện Indonesia do thiếu đất lúa đã phải quay vòng 4 vụ. Chắc chắn rằng, nông dân nai lưng làm lúa để ANLT cho gia đình mình thôi, chẳng ai nghĩ đến cho ANLT thế giới. Thế nhưng ANLT lại rất cần cho đất nước, nhất là biến đổi khí hậu ngày một khắc nghiệt. Cho nên, vấn đề là làm sao để giảm thiệt thòi cho bà con nông dân, chứ giá lúa sàn còn quá thấp so với giá trị như có vị đại biểu Quốc hội vừa phát biểu. Đấy là chưa kể những giá trị vô giá về sức khỏe và môi trường xuống cấp do chất độc từ phân bón và thuốc BVTV, riêng tồn dư thuốc BVTV trong đất đến 60% !








