Giãn phế quản, hậu quả của viêm phổi mãn
Biểu hiện của giãn phế quả là khạc đàm mãn tính
Tất nhiên là bệnh nhân có bệnh phổi mãn tính trước, sau đó là khạc đàm mãn tính. Khạc đàm hàng ngày với số lượng nhiều, có thể đong được từ hàng chục đến hàng trăm ml (thông thường trên 300 ml/ngày). Đàm khạc ra có màu sắc thay đổi tùy thuộc tình trạng nhiễm trùng; từ màu trắng trong đến xanh, vàng thậm chí vướng máu đỏ. Theo các chuyên gia hô hấp, đàm khạc trong giãn phế quản điển hình sẽ có 3 lớp: lớp trên là bọt, lớp giữa là mủ và lớp cuối là nhầy. Cũng có tác giả cho rằng 3 lớp đó là: trên cùng là bọt lẫn mủ, tiếp đến lớp nhầy và dưới cùng là mủ.
Tuy đặc trưng của giãn phế quản là ho khạc ra đàm mãn tính, chính triệu chứng này giúp thầy thuốc định hướng bệnh nhân bị giãn phế quản để làm các xét nghiệm chẩn đoán xác định, nhưng trong thực tế, nhiều trường hợp bệnh nhân bị giãn phế quản mà không có khạc ra đàm, gây chậm trễ trong chẩn đoán. Bệnh nhân chỉ ho dai dẳng, ho khan tái phát thỉnh thoảng kèm ho ra máu (người ta còn gọi là giãn phế quản “khô”). Ho ra máu là biến chứng cuối cùng của 50 – 70% các trường hợp giãn phế quản.
Ở những bệnh nhân giãn phế quản lâu năm và lan tỏa có thể gặp ngón tay dùi trống (đầu ngón tay phình to ra như cái dùi đánh trống), xanh tím. Nếu bệnh nhân bị giãn phế quản lan tỏa thì có thể bị khó thở hoặc khó thở có thể gặp trong đợt bội nhiễm. Giống như một số bệnh phổi mãn tính khác, bệnh nhân thiếu oxy mãn nên có thể tím tái, sụt cân, yếu sức, thiếu máu… theo các chuyên gia: 80% người giãn phế quản có triệu chứng đường hô hấp trên kèm theo. Nếu có nhiễm trùng thì kèm theo là sốt từ nhẹ đến cao, ăn uống kém, mệt mỏi, yếu sức….
Chẩn đoán bệnh giãn phế quản
Dựa vào các biểu hiện lâm sàng đã nêu ở trên kết hợp với thăm khám phát hiện các ran ẩm ứ đọng ở phổi ngay vùng bị giãn phế quản, nghe thấy tiếng khò khè hoặc ran ngáy, tiếng thở rít.
X quang phổi chuẩn ở các trường hợp này nhiều khi không ghi nhận được bất thường nào. Điển hình, giãn phế quản có hình ảnh: dày thành phế quản, hình nhiều ổ sáng nhỏ dưới 2cm, có thể có mức khí, nước do ứ đọng dịch, hình ảnh này được mô tả giống như tổ ong. Ngoài ra, trên X quang còn có thể phát hiện hình ảnh giảm thể tích thùy phổi do các phế quản dẫn lưu bị dịch nhày mủ bít tắc và viêm mãn tính nhu mô phổi, đông đặc khu mô phổi do viêm nhu mô cạnh ổ giãn phế quản. Trong khi thùy phổi lành giãn ra (giãn phổi bù).
Chụp phế quản có cản quang ngày nay rất ít sử dụng do có nhiều kỹ thuật khác tốt hơn. Ngày trước, chụp phế quản cản quang để chẩn đoán kiểu giãn phế quản, độ lan rộng và khi có chỉ định phẫu thuật cắt bỏ phế quản giãn. Chụp phế quản cản quang làm cho tình trạng giãn phế quản thêm trầm trọng. ngày nay, người ta thường chụp cắt lớp xoắn với độ phân giải cao (HRCT: high resolution CT Scan) là một kỹ thuật không xâm lấn rất quan toàn cho bệnh nhân, có thể phát hiện giãn phế quản từ mức độ nhẹ đến trung bình, giúp đánh giá mức độ lan tỏa của giãn phế quản cũng như mức độ giãn. Ngoài ra, chụp cắt lớp cũng giúp loại trừ các bệnh lý khác kèm theo cũng như phát hiện các tổn thương phổi ngoài phế quản.
![]() |
Dự phòng tùy thuộc nguyên nhân và điệu trị triệu chứng
Giãn phế quản do nhiều nhóm nguyên nhân khác nhau, trong đó có những nguyên nhân có thể dự phòng được nhưng cũng có khi không thể phòng ngừa. Việc điều trị hiện nay chủ yếu là điều trị chứng và biến chứng. Chủ yếu là điều trị kháng sinh khi có bội nhiễm vi khuẩn, có thể dùng kháng viêm corticoid để làm giả bài tiết nhầy hàng ngày và có thể giảm ho. Khi điều trị nội khoa không đạt hiệu quả thì có thể xem xét đến chỉ định phẫu thuật cắt bỏ vùng nhu mô phổi mất chức năng nơi bị giãn phế quản nhưng nói chung tiên lượng phẫu thuật rất nặng (nhất là ở những người lớn tuổi hoặc bị bệnh phổi đã lâu).
![]() |
Ở nhóm nguyên nhân do tắc nghẽn: phụ thuộc vị trí và thời gian tắc nghẽn, nhiễm trùng kèm theo. DƯới nơi tắc nghẽn dịch ứ đọng, áp lực nội phế quản tăng và sự sản sinh vi khuẩn tăng gây ra viêm mãn tại chỗ làm hư hại cấu trúc phế quản và cuối cùng là gây giãn.
Một số nhóm bất thường về cấu trúc bẩm sinh của phế quản (các hội chứng Mounier – Kuhn, William – Campell, Kartagener, Young…) hoặc bị rối loạn miễn dịch (suy giảm miễn dịch bẩm sinh hay mắc phải, do đáp ứng miễn dịch quá mức trong bệnh aspergillus phế quản phổi dị ứng…) hoặc giãn phế quản vô căn do rối loạn thanh lọc phế quản phổ thì tùy từng trường hợp cụ thể mà có hướng điều trị và phòng ngừa khác nhau. Bệnh nhân cần phải được khám, điều trị và theo dõi ở thầy thuốc chuyên khoa hô hấp.










