Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 14/12/2010 19:49 (GMT+7)

Giải pháp kỹ thuật và chính sách nhằm thúc đẩy nhanh công tác thụ tinh nhân tạo lợn, bò góp phần thực hiện chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020

I.Điểm qua một số tình hình và kết quả công tác TTNT (lợn, bò) hiện nay ở nước ta

1. Đối với TTNT lợn

Quyết định số 7/2005/QĐ-BNN ngày 31/01/2005 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT như là một “cú huých” đối với nghề TTNT lợn của nước ta. Không chỉ có thế, ngày 16/01/2008 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 10/2008/QĐ-TTg “Chiến lược phát triển chăn nuôi đến 2020”, trong đó có chăn nuôi lợn, bò thịt, bò sữa… Số cơ sở TTNT lợn hiện nay có 549 cơ sở. Các vùng có nhiều cơ sở TTNT tăng từ 2000 – 2008 là ĐBSCL 84; Tây Nguyên 50; Bắc Trung Bộ 45; Đông Nam Bộ 56 và ĐBSH là 23. Trong tổng số 549 cơ sở nuôi lợn đực giống để sản xuất tinh và cho nhẩy trực tiếp là 4.560 / 4.740 con. Hàng năm sản xuất từ 5.770.000 lên 6.190.000 liều tinh. Trong các cơ sở TTNT thì Nhà nước và Công ty cổ phần chỉ chiếm khoảng 19,1%; số còn lại là tư nhân chiếm khoảng 80,9%. Đây chính là cơ hội tốt để xã hội hoá công nghệ TTNT ở nước ta. Muốn làm được công việc này rất cần có sự giúp đỡ từ Trung ương đến các tỉnh về thiết bị và chính sách cho người quản lý các cơ sở tư nhân và các dẫn tinh viên. Nhân dịp này cũng cần có hình thức khen thưởng các địa phương đã làm tốt công tác TTNT lợn như Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Nguyên, Quảng Trị, Nghệ An… (ở miền Bắc). Còn các tỉnh ở phía Nam như Đồng Nai, Tiền Giang, Bình Định, Bà Rịa Vũng Tàu, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Gia Lai, Lâm Đồng, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Long An… Tuy vậy hiện nay số liều tinh được tiêu thụ chưa nhiều (khoảng 79 – 80% liều tinh được sản xuất ra). Cụ thể số liều tinh tiêu thụ được là 4,55/5,77 triệu liều năm 2007 và khoảng 4,96/6,19 triệu liều năm 2008. Tỷ lệ thụ thai mới đạt từ 74,8% đến 89,5% tuỳ theo các vùng. Số dẫn tinh viên (DTV) của cả nước ước khoảng 10,4 ngàn người, trong đó có khoảng 6,1 ngàn người hành nghề Thú y kiêm DTV (chiếm khoảng 58,6%). Các tỉnh đã có chính sách để phát triển TTNT lợn theo Quyết định số 7/2005/QĐ-BNN ngày 31/01/2005 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT. Đó là: Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Hà Tây (cũ), Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Ninh Bình, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang, Hoà Bình, Đồng Tháp, Khánh Hoà, Lâm Đồng, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Bình Thuận (17/63 tỉnh và thành phố).

2. Thụ tinh nhân tạo bò

Công nghệ TTNT bò được bắt đầu từ 1960 bằng tinh lỏng với kỹ thuật của Trung Quốc. Năm 1972 bằng tinh viên với kỹ thuật của Cu Ba. Được sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế và các dự án phát triển bò thịt và bò sữa của Nhà nước Việt Nam, công nghệ tinh cọng rạ của hãng Minitub (Cộng hòa Liên bang Đức) đã được phát triển ở nước ta. Công nghệ này đã và đang được Trung tâm Moncada trực thuộc Trung tâm giống gia súc lớn Trung ương quản lý và tổ chức thực hiện. Hàng năm Trung tâm Moncada sản xuất xấp xỉ 1 triệu liều 879.607 năm 2006 và 758.776 liều năm 2007). Cơ sở dịch vụ TTNT Bò có 135 cơ sở; số dẫn tinh viên (DTV) có 3225 người đã qua đào tạo; số DTV đang hoạt động là 1485. Số lượng bò cái được thu tinh nhân tạo 12,18% (Theo báo cáo của 44 tỉnh thành trong cả nước) có 10 tỉnh và Thành phố thực hiện công nghệ TTNT bò tốt. Đó là: TP Hồ Chí Minh (năm 2008 tiêu thụ 157.344 liều), Hà Nội mới, Bình Định, Thanh Hoá, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Nghệ An, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Long An. (Nguồn: Trung tâm giống gia súc lớn Trung ương). Những thành phố và các tỉnh đã có phương án thực hiện chương trình cải tạo đàn bò địa phương và lai tạo bò sữa HF theo quyết định 176/2001/QĐ-TTg ngày 26/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ ngày 20/01/2006 về giống cây trồng, vật nuôi, cây lâm nghiệp. Chiến lược phát triển bò sữa, bò thịt đến 2020 cũng là chỗ dựa chắc chắn để TTNT bò sữa, bò thịt phát triển, đặc biệt là bò sữa đến năm 2020 phải đạt 500.000 con.

II. Những tồn tại về kỹ thuật và chính sách, các biện pháp giải quyết những tồn tại để thúc đẩy TTNT lợn, bò

1. Những tồn tại về kỹ thuật và chính sách TTNT lợn

Như trong phần I đã trình bày về những kết quả đạt được trong công nghệ TTNT lợn, nhưng đến nay số nái được TTNT chỉ đạt 29% trong tổng số lợn nái sinh sản trong cả nước, mặc dù những trang trại, người chăn nuôi nhỏ lẻ những cán bộ quản lý đã thấy kỹ thuật TTNT là biện pháp nhanh nhất, hiệu quả nhất để cải tạo về năng suất và chất lượng đàn lợn. Cái nút cần phải cởi trói là tổ chức đội ngũ DTV yếu và thiếu. Cái yếu và thiếu ở đội ngũ DTV là kỹ thuật, chưa am hiểu có hệ thống về sinh lý sinh sản ở lợn, tay nghề chưa nhuần nhuyễn. Về chính sách xây dựng cơ sở TTNt chưa được đầu tư đúng mức theo quyết định số 7/2005-BNN ngày 31/01/2005 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT. Cho đến nay chỉ có 17/63 tỉnh, thành phố có văn bản chính thức nhằm phát triển TTNT lợn ở địa phương mình như phần thứ nhất đã trình bày. Hệ thống thông tin đại chúng chưa thông tin thường xuyên, liên tục về những ưu việt của công nghệ TTNT. Cả nước chưa xây dựng cơ sở kiểm tra năng suất lợn đực giống để từ đây lựa chọn được những đực giống có chất lượng tốt, nhất là những con đực đầu dòng có năng suất cao về sinh sản, về tỷ lệ nạc cao, về tiêu tốn thức ăn ít, về tăng trọng cao/ngày, về sức đề kháng bệnh tốt v.v… Công tác quản lý cơ sở TTNT và các đực giống nhảy trực tiếp chưa tốt.

Nói tóm lại: Dù bất kỳ một tiến bộ kỹ thuật (TBKT) nào tồn tại được trong sản xuất mà không bao gồm hai yếu tố: công nghệ và chính sách, đặc biệt là nguồn nhân lực (DTV) thì TBKT mới xanh cây, bén rễ và bền vững. Ngoài ra chúng ta còn phải có chính sách đầu tư thiết bị cho các cơ sở TTNT, cần có quan tâm đến đời sống cho người dẫn tinh viên bằng những nguồn kinh phí khuyến nông và khuyến lâm hoặc một đề tài hay một dự án trang trại máy óc dụng cụ cho tất cả các cơ sở TTNT lợn của các thành phần kinh tế khách nhau mà Quyết định 07/2005/QĐ-BNN ngày 31/01/2005 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT đã nêu ra. Các cơ sở hoạt động TTNT đã và đang xuống cấp cần nhanh chóng đầu tư kinh phí cho các nơi này.

2. Những tồn tại của công tác TTNT về kỹ thuật, chính sách và những giải pháp thúc đẩy TTNT cho bò phát triển

- Cả nước ta hiện nay chỉ có một cơ sở Moncada ở Ba Vì trực thuộc Trung tâm giống gia súc lớn Trung ương sản xuất tinh và bảo quản, phân phối tinh cọng rạ cho cả nước. Hàng năm Moncada sản xuất xấp xỉ 1 triệu liều tinh cọng rạ. Theo kế hoạch đến năm 2020 cả nước ta phải 500.000 bò sữa. Nếu tính 2 liều tinh cho một lần thụ thai ở bò sữa, thì số lượng liều tinh mà Moncada sản xuất chỉ đủ cho phát triển bò sữa. Con bò thịt sẽ không có tinh cọng rạ để phối giống cho chương trình phát triển bò thịt. Do đó cần xây dựng thêm cơ sở sản xuất, bảo quản và phân phối tinh cọng rạ đông lạnh, tốt nhất là đầu tư, nâng cấp năng suất cho cơ sở Moncada hiện có ở Ba Vì. Như vậy Nhà nước phải có ngân sách hỗ trợ cho các cơ sở sẽ xây dựng thêm; cần tiếp tục nhập các giống bò cao sản hướng sữa (HF) và các giống bò thịt Limousine, Droughmaster, Charolais.

- Tồn tại thứ hai là đội ngũ dẫn tinh viên cho bò hiện nay còn thiếu và yếu. Do đó việc đầu tư kinh phí nhà nước để đào tạo DTV là việc cần làm ngay để có nhiều DTV thạo về tay nghề và giỏi về kiến thức. Ngoài ra DTV còn được phụ cấp kinh phí hàng tháng bằng nguồn tiền của nhà nước từ Trung ương tới địa phương thông qua các dự án hoặc chương trình phát triển bò sữa, bò thịt giai đoạn từ 2010 – 2020.

- Tồn tại thứ ba là hệ thống quản lý được giống sử dụng cho TTNT hay phối trực tiếp cũng là vấn đề nhức nhối cần được quan tâm ngay từ bây giờ mới đáp ứng được mục tiêu phát triển chăn nuôi bò sữa, bò thịt từ 2010 – 2010. Để khắc phục tồn tại này cần có hệ thống quản lý đực giống từ Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn xuống các tỉnh thông qua Cục Chăn nuôi (Trung tâm khảo, kiểm nghiệm giống gia súc Trung ương).

III. Kết luận

Để phát triển TTNT gia súc (lợn, bò) có hiệu quả nhất là ở các trang trại, về phía Nhà nước, Trung ương, địa phương cần nắm chắc và thường xuyên các yếu tố sau đây:

- Quản lý được các con đực giống lợn, bò dùng trong TTNT và nhảy trực tiếp.

- Quản lý được các DTV và có chính sách thu nhập hợp lý cho họ qua khâu kết quả dẫn tinh hoặc trợ cấp theo thang lương của Nhà nước hiện hành. Nói khác đi là: Cần có những chính sách, giải pháp để DTV sống bằng nghề TTNT (bò, lợn). Họ chỉ có nguyện vọng sinh vì nghệ, tử vì nghệ thì TTNT mới phát triển bền vững. Thí dụ: Anh Trần Xuân Soạn (Bắc Ninh) phối giống hàng ngàn con bò sữa/năm; chị Huệ (Trung tâm giống vật nuôi Nghệ An); Chị Thuyên (Hưng Nguyên, Nghệ An) đã TTNT 1500 bò/năm. Xí nghiệp truyền giống miền Nam hàng tháng phối giống 250 con/tháng.

- Thường xuyên kiểm tra và nâng cấp các cơ sở TTNT lợn, bò để đầu tư nguồn kinh phí của Nhà nước hoặc vốn vay ngân hàng với lãi suất bằng không. Khuyến khích tư nhân đầu tư sản xuất tinh dịch lợn, bò theo QĐ 07/2005 của Bộ Nông nghiệp và PTNT và Quyết định số 10/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chiến lược phát triển chăn nuôi từ nay đến 2020.

Ngoài ra cần có chính sách về đất đai xây dựng cơ sở TTNT và phải thường xuyên tuyên truyền về lợi ích của TTNT lợn, bò trên các phương tiện thông tin đại chúng (báo, đài truyền thanh, VTV…).

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Góp ý Luật luật An toàn, vệ sinh lao động: Lấy bảo vệ con người và quản trị rủi ro làm trung tâm
Ngày 30/10/2026, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn Vệ sinh Lao động Việt Nam (VOSHA) tổ chức Hội thảo "Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động". Hội thảo do PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch VUSTA và GS.TS Lê Vân Trình, Chủ tịch VOSHA đồng chủ trì.
VUSTA công bố các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt
Ngày 30/10/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trang trọng tổ chức Hội nghị công bố các quyết định quan trọng về công tác cán bộ. Lãnh đạo VUSTA đã trao quyết định nghỉ hưu hưởng chế độ cho 02 cán bộ, chuyên viên, đồng thời trao các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng “Vì người nghèo”
Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.
Thủ tướng mong muốn đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng kiến tạo chuỗi giá trị mới
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và kiến tạo những chuỗi giá trị mới.
Tạo động lực tăng trưởng xanh từ khoa học, công nghệ
Chính phủ Việt Nam nhiều lần khẳng định quan điểm "không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế". Trong bối cảnh đó, việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu tăng trưởng nhanh và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các giải pháp khoa học, công nghệ đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Hội nghị Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ nhất (khóa IX)
Chiều 28/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ nhất (khóa IX), nhiệm kỳ 2026 - 2031. Hội nghị tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản nền tảng quan trọng, đánh giá kết quả hoạt động từ sau Đại hội IX, đồng thời đề ra nhiệm vụ trọng tâm đến cuối năm 2026.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 10/2026: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm
Sáng 28/10, tại Hà Nội, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 10, xác định nhiệm vụ trọng tâm tháng 11/2026 và triển khai một số nội dung quan trọng liên quan đến công tác xây dựng Đảng.
GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.