Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 14/12/2010 19:49 (GMT+7)

Giải pháp kỹ thuật và chính sách nhằm thúc đẩy nhanh công tác thụ tinh nhân tạo lợn, bò góp phần thực hiện chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020

I.Điểm qua một số tình hình và kết quả công tác TTNT (lợn, bò) hiện nay ở nước ta

1. Đối với TTNT lợn

Quyết định số 7/2005/QĐ-BNN ngày 31/01/2005 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT như là một “cú huých” đối với nghề TTNT lợn của nước ta. Không chỉ có thế, ngày 16/01/2008 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 10/2008/QĐ-TTg “Chiến lược phát triển chăn nuôi đến 2020”, trong đó có chăn nuôi lợn, bò thịt, bò sữa… Số cơ sở TTNT lợn hiện nay có 549 cơ sở. Các vùng có nhiều cơ sở TTNT tăng từ 2000 – 2008 là ĐBSCL 84; Tây Nguyên 50; Bắc Trung Bộ 45; Đông Nam Bộ 56 và ĐBSH là 23. Trong tổng số 549 cơ sở nuôi lợn đực giống để sản xuất tinh và cho nhẩy trực tiếp là 4.560 / 4.740 con. Hàng năm sản xuất từ 5.770.000 lên 6.190.000 liều tinh. Trong các cơ sở TTNT thì Nhà nước và Công ty cổ phần chỉ chiếm khoảng 19,1%; số còn lại là tư nhân chiếm khoảng 80,9%. Đây chính là cơ hội tốt để xã hội hoá công nghệ TTNT ở nước ta. Muốn làm được công việc này rất cần có sự giúp đỡ từ Trung ương đến các tỉnh về thiết bị và chính sách cho người quản lý các cơ sở tư nhân và các dẫn tinh viên. Nhân dịp này cũng cần có hình thức khen thưởng các địa phương đã làm tốt công tác TTNT lợn như Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Nguyên, Quảng Trị, Nghệ An… (ở miền Bắc). Còn các tỉnh ở phía Nam như Đồng Nai, Tiền Giang, Bình Định, Bà Rịa Vũng Tàu, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Gia Lai, Lâm Đồng, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Long An… Tuy vậy hiện nay số liều tinh được tiêu thụ chưa nhiều (khoảng 79 – 80% liều tinh được sản xuất ra). Cụ thể số liều tinh tiêu thụ được là 4,55/5,77 triệu liều năm 2007 và khoảng 4,96/6,19 triệu liều năm 2008. Tỷ lệ thụ thai mới đạt từ 74,8% đến 89,5% tuỳ theo các vùng. Số dẫn tinh viên (DTV) của cả nước ước khoảng 10,4 ngàn người, trong đó có khoảng 6,1 ngàn người hành nghề Thú y kiêm DTV (chiếm khoảng 58,6%). Các tỉnh đã có chính sách để phát triển TTNT lợn theo Quyết định số 7/2005/QĐ-BNN ngày 31/01/2005 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT. Đó là: Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Hà Tây (cũ), Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Ninh Bình, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang, Hoà Bình, Đồng Tháp, Khánh Hoà, Lâm Đồng, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Bình Thuận (17/63 tỉnh và thành phố).

2. Thụ tinh nhân tạo bò

Công nghệ TTNT bò được bắt đầu từ 1960 bằng tinh lỏng với kỹ thuật của Trung Quốc. Năm 1972 bằng tinh viên với kỹ thuật của Cu Ba. Được sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế và các dự án phát triển bò thịt và bò sữa của Nhà nước Việt Nam, công nghệ tinh cọng rạ của hãng Minitub (Cộng hòa Liên bang Đức) đã được phát triển ở nước ta. Công nghệ này đã và đang được Trung tâm Moncada trực thuộc Trung tâm giống gia súc lớn Trung ương quản lý và tổ chức thực hiện. Hàng năm Trung tâm Moncada sản xuất xấp xỉ 1 triệu liều 879.607 năm 2006 và 758.776 liều năm 2007). Cơ sở dịch vụ TTNT Bò có 135 cơ sở; số dẫn tinh viên (DTV) có 3225 người đã qua đào tạo; số DTV đang hoạt động là 1485. Số lượng bò cái được thu tinh nhân tạo 12,18% (Theo báo cáo của 44 tỉnh thành trong cả nước) có 10 tỉnh và Thành phố thực hiện công nghệ TTNT bò tốt. Đó là: TP Hồ Chí Minh (năm 2008 tiêu thụ 157.344 liều), Hà Nội mới, Bình Định, Thanh Hoá, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Nghệ An, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Long An. (Nguồn: Trung tâm giống gia súc lớn Trung ương). Những thành phố và các tỉnh đã có phương án thực hiện chương trình cải tạo đàn bò địa phương và lai tạo bò sữa HF theo quyết định 176/2001/QĐ-TTg ngày 26/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ ngày 20/01/2006 về giống cây trồng, vật nuôi, cây lâm nghiệp. Chiến lược phát triển bò sữa, bò thịt đến 2020 cũng là chỗ dựa chắc chắn để TTNT bò sữa, bò thịt phát triển, đặc biệt là bò sữa đến năm 2020 phải đạt 500.000 con.

II. Những tồn tại về kỹ thuật và chính sách, các biện pháp giải quyết những tồn tại để thúc đẩy TTNT lợn, bò

1. Những tồn tại về kỹ thuật và chính sách TTNT lợn

Như trong phần I đã trình bày về những kết quả đạt được trong công nghệ TTNT lợn, nhưng đến nay số nái được TTNT chỉ đạt 29% trong tổng số lợn nái sinh sản trong cả nước, mặc dù những trang trại, người chăn nuôi nhỏ lẻ những cán bộ quản lý đã thấy kỹ thuật TTNT là biện pháp nhanh nhất, hiệu quả nhất để cải tạo về năng suất và chất lượng đàn lợn. Cái nút cần phải cởi trói là tổ chức đội ngũ DTV yếu và thiếu. Cái yếu và thiếu ở đội ngũ DTV là kỹ thuật, chưa am hiểu có hệ thống về sinh lý sinh sản ở lợn, tay nghề chưa nhuần nhuyễn. Về chính sách xây dựng cơ sở TTNt chưa được đầu tư đúng mức theo quyết định số 7/2005-BNN ngày 31/01/2005 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT. Cho đến nay chỉ có 17/63 tỉnh, thành phố có văn bản chính thức nhằm phát triển TTNT lợn ở địa phương mình như phần thứ nhất đã trình bày. Hệ thống thông tin đại chúng chưa thông tin thường xuyên, liên tục về những ưu việt của công nghệ TTNT. Cả nước chưa xây dựng cơ sở kiểm tra năng suất lợn đực giống để từ đây lựa chọn được những đực giống có chất lượng tốt, nhất là những con đực đầu dòng có năng suất cao về sinh sản, về tỷ lệ nạc cao, về tiêu tốn thức ăn ít, về tăng trọng cao/ngày, về sức đề kháng bệnh tốt v.v… Công tác quản lý cơ sở TTNT và các đực giống nhảy trực tiếp chưa tốt.

Nói tóm lại: Dù bất kỳ một tiến bộ kỹ thuật (TBKT) nào tồn tại được trong sản xuất mà không bao gồm hai yếu tố: công nghệ và chính sách, đặc biệt là nguồn nhân lực (DTV) thì TBKT mới xanh cây, bén rễ và bền vững. Ngoài ra chúng ta còn phải có chính sách đầu tư thiết bị cho các cơ sở TTNT, cần có quan tâm đến đời sống cho người dẫn tinh viên bằng những nguồn kinh phí khuyến nông và khuyến lâm hoặc một đề tài hay một dự án trang trại máy óc dụng cụ cho tất cả các cơ sở TTNT lợn của các thành phần kinh tế khách nhau mà Quyết định 07/2005/QĐ-BNN ngày 31/01/2005 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT đã nêu ra. Các cơ sở hoạt động TTNT đã và đang xuống cấp cần nhanh chóng đầu tư kinh phí cho các nơi này.

2. Những tồn tại của công tác TTNT về kỹ thuật, chính sách và những giải pháp thúc đẩy TTNT cho bò phát triển

- Cả nước ta hiện nay chỉ có một cơ sở Moncada ở Ba Vì trực thuộc Trung tâm giống gia súc lớn Trung ương sản xuất tinh và bảo quản, phân phối tinh cọng rạ cho cả nước. Hàng năm Moncada sản xuất xấp xỉ 1 triệu liều tinh cọng rạ. Theo kế hoạch đến năm 2020 cả nước ta phải 500.000 bò sữa. Nếu tính 2 liều tinh cho một lần thụ thai ở bò sữa, thì số lượng liều tinh mà Moncada sản xuất chỉ đủ cho phát triển bò sữa. Con bò thịt sẽ không có tinh cọng rạ để phối giống cho chương trình phát triển bò thịt. Do đó cần xây dựng thêm cơ sở sản xuất, bảo quản và phân phối tinh cọng rạ đông lạnh, tốt nhất là đầu tư, nâng cấp năng suất cho cơ sở Moncada hiện có ở Ba Vì. Như vậy Nhà nước phải có ngân sách hỗ trợ cho các cơ sở sẽ xây dựng thêm; cần tiếp tục nhập các giống bò cao sản hướng sữa (HF) và các giống bò thịt Limousine, Droughmaster, Charolais.

- Tồn tại thứ hai là đội ngũ dẫn tinh viên cho bò hiện nay còn thiếu và yếu. Do đó việc đầu tư kinh phí nhà nước để đào tạo DTV là việc cần làm ngay để có nhiều DTV thạo về tay nghề và giỏi về kiến thức. Ngoài ra DTV còn được phụ cấp kinh phí hàng tháng bằng nguồn tiền của nhà nước từ Trung ương tới địa phương thông qua các dự án hoặc chương trình phát triển bò sữa, bò thịt giai đoạn từ 2010 – 2020.

- Tồn tại thứ ba là hệ thống quản lý được giống sử dụng cho TTNT hay phối trực tiếp cũng là vấn đề nhức nhối cần được quan tâm ngay từ bây giờ mới đáp ứng được mục tiêu phát triển chăn nuôi bò sữa, bò thịt từ 2010 – 2010. Để khắc phục tồn tại này cần có hệ thống quản lý đực giống từ Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn xuống các tỉnh thông qua Cục Chăn nuôi (Trung tâm khảo, kiểm nghiệm giống gia súc Trung ương).

III. Kết luận

Để phát triển TTNT gia súc (lợn, bò) có hiệu quả nhất là ở các trang trại, về phía Nhà nước, Trung ương, địa phương cần nắm chắc và thường xuyên các yếu tố sau đây:

- Quản lý được các con đực giống lợn, bò dùng trong TTNT và nhảy trực tiếp.

- Quản lý được các DTV và có chính sách thu nhập hợp lý cho họ qua khâu kết quả dẫn tinh hoặc trợ cấp theo thang lương của Nhà nước hiện hành. Nói khác đi là: Cần có những chính sách, giải pháp để DTV sống bằng nghề TTNT (bò, lợn). Họ chỉ có nguyện vọng sinh vì nghệ, tử vì nghệ thì TTNT mới phát triển bền vững. Thí dụ: Anh Trần Xuân Soạn (Bắc Ninh) phối giống hàng ngàn con bò sữa/năm; chị Huệ (Trung tâm giống vật nuôi Nghệ An); Chị Thuyên (Hưng Nguyên, Nghệ An) đã TTNT 1500 bò/năm. Xí nghiệp truyền giống miền Nam hàng tháng phối giống 250 con/tháng.

- Thường xuyên kiểm tra và nâng cấp các cơ sở TTNT lợn, bò để đầu tư nguồn kinh phí của Nhà nước hoặc vốn vay ngân hàng với lãi suất bằng không. Khuyến khích tư nhân đầu tư sản xuất tinh dịch lợn, bò theo QĐ 07/2005 của Bộ Nông nghiệp và PTNT và Quyết định số 10/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chiến lược phát triển chăn nuôi từ nay đến 2020.

Ngoài ra cần có chính sách về đất đai xây dựng cơ sở TTNT và phải thường xuyên tuyên truyền về lợi ích của TTNT lợn, bò trên các phương tiện thông tin đại chúng (báo, đài truyền thanh, VTV…).

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

5 nhà khoa học của Liên hiệp Hội Việt Nam được tôn vinh “Nhà khoa học của Nhà nông” năm 2026
Sáng 2/10/2026, tại Hà Nội, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tổ chức Chương trình tôn vinh “Nhà khoa học của Nhà nông” lần thứ VII và trao giải Cuộc thi “Sáng tạo kỹ thuật Nhà nông” toàn quốc lần thứ XI năm 2026. Trong số 42 cá nhân được tôn vinh năm nay có 5 nhà khoa học do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam giới thiệu.
Thanh Hoá: Kinh tế tuần hoàn, tín chỉ Carbon và mô hình sản xuất không phát thải
Ngày 30/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội) phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Hồng Đức và Viện Nông nghiệp Thanh Hóa tổ chức Diễn đàn khoa học với chủ đề “Kinh tế tuần hoàn và tín chỉ Carbon - Phương pháp xây dựng mô hình sản xuất không phát thải tại Thanh Hóa”.
Đắk Lắk: Phát huy nguồn lực trí thức, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tỉnh
Trong giai đoạn 2026-2030, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) là yêu cầu quan trọng để Đắk Lắk khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế và các nguồn lực cho phát triển. Cùng với KHCN và CĐS, ĐMST cần được nhìn nhận không chỉ là hoạt động của các viện, trường hay doanh nghiệp công nghệ, mà là một phương thức tổ chức nguồn lực để giải quyết những bài toán phát triển cụ thể của địa phương.
Phú Thọ: Tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại xã Lạc Sơn
Ngày 25/9/2026, tại xã Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng (MACDI) cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức chương trình tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
Đại hội Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lần thứ VIII: GS.TS Nguyễn Văn Kim được bầu làm Chủ tịch
Ngày 30/9/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Hội; GS.TS Nguyễn Văn Kim được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.
Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.