Giá than - nhìn từ góc độ sử dụng hợp lý tài nguyên và phát triển bền vững
1. Vấn đề sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên khoáng sản
1.1 Xuất khẩu than tăng vì sao?
Những năm gần đây xuất khẩu than liên tục gia tăng với tốc ngày càng cao, cụ thể như trên bảng 1 (triệu tấn). Số liệu ở bảng 1 cho thấy, trong 2 năm 2004, 2005 sản lượng than xuất khẩu của cả nước có tốc độ tăng là 58,9 và 55,2%; trong đó có Tổng Công ty Than Việt Nam - TVN (nay là Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam - TKV) tương ứng là 61,5% và 40,0%, của các đơn vị khác ngoài TVN là 37,5 và 200,0%. Việc tăng nhanh sản lượng than xuất khẩu đã khiến cho dư luận quan tâm lo ngại về sự mau chóng cạn kiệt nguồn tài nguyên không tái tạo và sự thiếu hụt trong việc đáp ứng nhu cầu than của nền kinh tế ngày càng cao trong tương lai. Đã có ý kiến cảnh báo về bài học xuất khẩu gỗ hơn 10 năm trước đây để đến nay đất nước phải nhập khẩu gỗ còn lớn hơn số gỗ đã xuất khẩu với giá tăng cao hơn nhiều. Vậy nguyên nhân làm cho xuất khẩu than ngày càng tăng nhanh là gì?
![]() |
Bảng 1 (Nguồn: 1. Niên giám thống kê VN năm 2005; 2. Các báo cáo thống kê của TVN từ năm 2000-2005) |
![]() |
Bảng 2 (Nguồn: Báo cáo tài chính của TVN năm 2000-2005) |
![]() |
Bảng 3 |
Do giá than nội địa thấp nên trong thời gian qua TVN xuất khẩu than để: 1) bù lỗ phần sản lượng than tiêu thụ trong nước; 2) thu lợi nhuận để tái đầu tư duy trì và nâng cao sản lượng đáp ứng nhu cầu than của nền kinh tế ngày càng tăng cao; 3) xuất khẩu một số chủng loại than mà trong nước tạm thời chưa có nhu cầu, trong đó có cả nguyên nhân nhu cầu than thực tế cho sản xuất điện và xi măng luôn thấp hơn nhu cầu dự kiến trong kế hoạch và quy hoạch. Chẳng hạn, năm 2005 TVN xuất khẩu 14,7 triệu tấn, trong đó theo tính toán gần 2 triệu tấn than để bù lỗ cho than tiêu thụ trong nước khoảng 10 triệu tấn để thu lợi nhuận đáp ứng 30% tổng vốn đầu tư; số còn lại khoảng 2,7 triệu tấn là các loại than trong nước chưa có nhu cầu.
![]() |
Bảng 4 |
1.2 Tổn thất than trong quá trình khai thác còn ở mức cao
Tỷ lệ tổn thất than trong quá trình khai thác thời gian qua tuy phần nào đã được cải thiện nhờ có tích luỹ đầu tư áp dụng công nghệ mới, song vẫn còn ở mức cao, nhất là ở các mỏ hầm lò, cụ thể như trên bảng 4.
Một trong những nguyên nhân làm tổn thất than còn ở mức cao là do giá than thấp nên trong nhiều trường hợp một phần trữ lượng than có giá thành khai thác cao bị doanh nghiệp bỏ lại trong lòng đất và ngoài bãi thải.
Rõ ràng, qua những điều phân tích ở trên cho thấy nguyên nhân của mọi nguyên nhân làm tăng cao xuất khẩu than là do giá than bán trong nước quá thấp. Việc duy trì cơ chế giá than nội địa thấp, nhất là giá than bán cho các hộ tiêu thụ chính (điện, xi măng, phân bón, giấy) không những gây nhiều tiêu cực trong buôn bán và xuất khẩu than, không phản ánh đúng thực chất hiệu quả kinh doanh và năng lực cạnh tranh của các hộ sử dụng than mà còn góp phần làm cho việc sử dụng than lãng phí, làm tăng tổn thất than trong quá trình khai thác, sàng tuyển và làm tăng đà suy thoái môi trường, gây nhiều thiệt hại cho nền kinh tế, đẩy nhanh quá trình cạn kiệt nguồn “vàng đen” hữu hạn không thể tái tạo của đất nước.
Điều đó không phù hợp với chủ trương đã đề ra trong Nghị quyết Đại hội X của Đảng ta và “Tăng cường quản lý, bảo đảm khai thác tài nguyên khoáng sản hợp lý và tiết kiệm; xây dựng và thực hiện nghiêm các quy định về phục hồi môi trường các khu khai thác khoáng sản và các hệ sinh thái bị xâm phạm, bảo đảm cân bằng sinh thái”.
2. Vấn đề phát triển bền vững ngành than
2.1 Các thách thức
Theo dự báo trong dự thảo Quy hoạch phát triển ngành than đến năm 2015, có xét triển vọng đến năm 2025 (hiện đang trình Bộ Công nghiệp phê duyệt) thì nhu cầu than tiêu thụ trong nước như sau (triệu tấn): năm 2006: 18,4 - 18,7; năm 2010: 29,4 - 31,8; năm 2015: 37,2 - 50,7; năm 2020: 71,5 - 75,4; năm 2025: 112,3 - 118,1.
Trong khi mức sản lượng than nguyên khai dự kiến khai thác là (triệu tấn): năm 2006: 39,6; năm 2010: 49,3; năm 2015: 54,8; năm 2020: 62,9; năm 2025: 65,7 và sản lượng than sạch là: 2006: 35,1; năm 2010: 44,2; năm 2015: 49,8; năm 2020: 57,3; năm 2025: 60,3. Sản lượng than không thể tăng hơn được nữa do nguồn trữ lượng than có thể khai thác bằng công nghệ hiện có là rất hạn chế; thậm chí mức sản lượng nêu trên còn giảm nữa nếu loại trừ phần sản lượng (9 - 12 triệu tấn) dự kiến khai thác từ mỏ Bình Minh (Khoái Châu) thuộc bể than đồng bằng Bắc Bộ hiện đang chưa tìm được công nghệ khai thác thích hợp. Như vậy, sau năm 2015 nền kinh tế sẽ thiếu than, nhất là sau 2020 sẽ thiếu trầm trọng. Qua đó cho thấy những thách thức đối với ngành than trong thời gian tới như sau:
1) Nhu cầu than trong nước tăng cao, trong khi khả năng tăng sản lượng không thể đáp ứng như nêu trên.
2) Tài nguyên than nói chung và điều kiện khai thác nói riêng ngày càng khó khăn, phức tạp hơn thể hiện trên các khía cạnh:
a) Các mỏ lộ thiên hiện có ngày càng xuống sâu kéo theo phải giải quyết các vấn đề ổn định bờ mỏ, thoát nước, đổ thải, cung độ vận tải, môi trường khí hậu;
b) Các mỏ hầm lò hiện có ngày càng xuống sâu, đi xa kéo theo phải giải quyết các vấn đề khí mỏ, địa chất thuỷ văn, cung độ vận tải v.v…
c) Nguồn tài nguyên than đã được thăm dò xác minh và có điều kiện khai thác thuận lợi đang cạn kiệt dần, phải đưa vào khai thác phần tài nguyên trữ lượng than nằm ở dưới sâu, vùng xa, hoặc nằm dưới những vùng đòi hỏi phải bảo vệ nghiêm ngặt các công trình hoặc cấu tạo trên bề mặt. Mặt khác, nguồn tài nguyên than tiềm năng, nhất là ở đồng bằng Bắc Bộ không những chưa được thăm dò xác minh mà còn có điều kiện khai thác hết sức khó khăn, chưa tìm được công nghệ khai thác thích hợp.
3) Việc đảm bảo an toàn và bảo vệ môi trường trong quá trình khai thác đòi hỏi ngày càng nghiêm ngặt hơn.
4) Để tăng nhanh sản lượng đòi hỏi nhu cầu vốn đầu tư rất cao, trong khi nguồn vốn tự có trong ngành, nguồn vốn trong nước rất hạn hẹp và giá bán than trong nước rất thấp so với giá thành; việc tăng giá than trong nước, nhất là than bán cho sản xuất điện (là nhu cầu than chủ yếu trong tương lai) lại rất nhạy cảm về mặt xã hội. Cụ thể là, mặc dù chưa chính tính đúng, tính đủ nhưng theo dự tính trong dự thảo Quy hoạch phát triển ngành than đã nêu trên thì tổng nhu cầu vốn đầu tư từ 2006 đến 2025 là 89102 tỷ đồng, bình quân 4455 tỉ đồng/ năm (tương đương khoảng 270 triệu USD/ năm) và giá thành than trong những năm tới càng ngày tăng cao do các yếu tố làm tăng chi phí sản xuất là rất lớn.
5) Sự hội nhập kinh tế khu vực, quốc tế và toàn cầu hóa làm cho tính cạnh tranh cả trên thị trường than thế giới và trong nước ngày càng quyết liệt hơn.
Tóm lại, các thách thức trên là đa chiều, đa diện đối với ngành than: Việc tăng nhanh sản lượng than và nâng cao khả năng cạnh tranh diễn ra trong điều kiện nguồn tài nguyên trữ lượng than thuận lợi ngày càng cạn kiệt, điều kiện khai thác ngày càng khó khăn, yêu cầu đảm bảo an toàn và bảo vệ môi trường ngày càng nghiêm ngặt, đòi hỏi nhu cầu vốn đầu tư lớn, chi phí khai thác cao trong khi giá bán than trong nước rất thấp và việc xuất khẩu than bị hạn chế do phải đáp ứng nhu cầu than của nền kinh tế tăng cao.
Qua những điều phân tích trên đây cho thấy nguồn “vàng đen” của nước ta là hạn chế, lẽ ra đó là nguồn nguyên nhiên liệu quý giá dành để phục vụ cho nhu cầu sử dụng của các ngành kinh tế quốc dân nhưng do giá than trong nước thấp nên phải xuất khẩu một phần để đảm bảo cân đối tài chính cho ngành than; lẽ ra phần lợi nhuận thu được từ xuất khẩu than dùng để đầu tư tiếp tục tìm kiếm, thăm dò tài nguyên; mở rộng sản xuất; đảm bảo an toàn lao động; bảo vệ môi trường và phát triển nguồn nhân lực nhằm phát triển bền vững ngành than thì lại đem bù lỗ cho một số ngành sử dụng than trong nước.
2.2. Giải pháp
Qua tính toán, phân tích các phương án khác nhau cho thấy phương án hợp tình, hợp lý nhất có hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất phù hợp với quy luật kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hoá để giảm thiểu xuất khẩu than là thực hiện lộ trình thị trường hoá giá than trong nước theo tinh thần đến năm 2010 bằng giá FOB xuất khẩu và đến năm 2020 bằng giá CIF nhập khẩu. Khi đó sản lượng than khai thác được sẽ dành tối đa cho nhu cầu than trong nước, chỉ xuất khẩu lượng than thừa và sau năm 2015 mới phải nhập khẩu than; ngành than không những cân đối, tự chủ được tài chính mà còn có tích luỹ để đầu tư phát triển các ngành nghề khác theo phương châm “đi lên từ than, phát triển trên nền than”. Chỉ có như vậy mới tạo điều kiện cho ngành than phát triển bền vững, khai thác tận thu tối đa tài nguyên nhằm đáp ứng một cách chủ động nhu cầu than ngày càng tăng cao của nền kinh tế, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia; khắc phục các bất cập hiện nay do giá than thấp gây ra; đồng thời cũng là một công cụ để buộc các ngành phải sử dụng than tiết kiệm, hiệu quả hơn nhằm giảm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng khả năng cạnh tranh để vững vàng bước vào hội nhập với những thách thức cam go hơn đang chờ đón.












