Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 05/11/2007 23:23 (GMT+7)

Giá than - nhìn từ góc độ sử dụng hợp lý tài nguyên và phát triển bền vững

1. Vấn đề sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên khoáng sản

1.1 Xuất khẩu than tăng vì sao?

Những năm gần đây xuất khẩu than liên tục gia tăng với tốc ngày càng cao, cụ thể như trên bảng 1 (triệu tấn). Số liệu ở bảng 1 cho thấy, trong 2 năm 2004, 2005 sản lượng than xuất khẩu của cả nước có tốc độ tăng là 58,9 và 55,2%; trong đó có Tổng Công ty Than Việt Nam - TVN (nay là Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam - TKV) tương ứng là 61,5% và 40,0%, của các đơn vị khác ngoài TVN là 37,5 và 200,0%. Việc tăng nhanh sản lượng than xuất khẩu đã khiến cho dư luận quan tâm lo ngại về sự mau chóng cạn kiệt nguồn tài nguyên không tái tạo và sự thiếu hụt trong việc đáp ứng nhu cầu than của nền kinh tế ngày càng cao trong tương lai. Đã có ý kiến cảnh báo về bài học xuất khẩu gỗ hơn 10 năm trước đây để đến nay đất nước phải nhập khẩu gỗ còn lớn hơn số gỗ đã xuất khẩu với giá tăng cao hơn nhiều. Vậy nguyên nhân làm cho xuất khẩu than ngày càng tăng nhanh là gì?

Bảng 1

Bảng 1 (Nguồn: 1. Niên giám thống kê VN năm 2005; 2. Các báo cáo thống kê của TVN từ năm 2000-2005)

Trước hết, nguyên nhân căn bản là do giá than bán trong nước thấp so với giá thành và quá thấp so với giá xuất khẩu, đặc biệt là giá than bán cho các hộ tiêu thụ trọng điểm gồm nhiệt điệnthan, xi măng, phân bón, hóa chất. Cụ thể như trên bảng 2.

Bảng 2

Bảng 2 (Nguồn: Báo cáo tài chính của TVN năm 2000-2005)

Như vậy, giá than nội địa bình quân thời gian qua luôn thấp hơn giá thành tiêu thụ và chỉ bằng 3/5 - 3/4 giá than xuất khẩu bình quân. Trong đó, giá than bán cho các hộ tiêu thụ trọng điểm sovới giá than xuất khẩu cùng loại còn thấp hơn nhiều như trên bảng 3.

Bảng 3

Bảng 3

Qua số liệu các bảng 3 nêu trên cho thấy chênh lệch giữa giá than nội địa và giá than xuất khẩu càng lớn thì sản lượng than xuất khẩu càng tăng. Điều đó là hoàn toàn phù hợp với quy luật thịtrường. Chẳng hạn, hiện nay ở Trung Quốc thì ngược lại với ta: giá than nội địa cao hơn giá than xuất khẩu nên xuất khẩu than giảm xuống, chẳng hạn than xuất khẩu của Trung Quốc năm 2005 giảm xuốngcòn 71,8 triệu tấn, trong khi năm 2003 xuất khẩu đạt trên 90 triệu tấn.

Do giá than nội địa thấp nên trong thời gian qua TVN xuất khẩu than để: 1) bù lỗ phần sản lượng than tiêu thụ trong nước; 2) thu lợi nhuận để tái đầu tư duy trì và nâng cao sản lượng đáp ứng nhu cầu than của nền kinh tế ngày càng tăng cao; 3) xuất khẩu một số chủng loại than mà trong nước tạm thời chưa có nhu cầu, trong đó có cả nguyên nhân nhu cầu than thực tế cho sản xuất điện và xi măng luôn thấp hơn nhu cầu dự kiến trong kế hoạch và quy hoạch. Chẳng hạn, năm 2005 TVN xuất khẩu 14,7 triệu tấn, trong đó theo tính toán gần 2 triệu tấn than để bù lỗ cho than tiêu thụ trong nước khoảng 10 triệu tấn để thu lợi nhuận đáp ứng 30% tổng vốn đầu tư; số còn lại khoảng 2,7 triệu tấn là các loại than trong nước chưa có nhu cầu.

Bảng 4

Bảng 4

Nguyên nhân thứ hai làm tăng xuất khẩu là do quản lý phần than tiêu thụ trong nước chưa chặt chẽ. Do giá than trong nước thấp và giá than xuất khẩu cao như đã nêu trên nên một khối lượng thangọi là tiêu thụ trong nước nhưng đã bị xuất khẩu lậu để ăn chênh lệch giá (tương tự như hiện tượng xuất khẩu lậu xăng dầu qua biên giới phía Tây Nam ). Theo ước tính năm 2005 khoảng 2 triệu tấn than đã xuất khẩu lậu theo kiểu này; 10 tháng đầu năm 2006 con số đó còn cao hơn nhiều.

1.2 Tổn thất than trong quá trình khai thác còn ở mức cao

Tỷ lệ tổn thất than trong quá trình khai thác thời gian qua tuy phần nào đã được cải thiện nhờ có tích luỹ đầu tư áp dụng công nghệ mới, song vẫn còn ở mức cao, nhất là ở các mỏ hầm lò, cụ thể như trên bảng 4.

Một trong những nguyên nhân làm tổn thất than còn ở mức cao là do giá than thấp nên trong nhiều trường hợp một phần trữ lượng than có giá thành khai thác cao bị doanh nghiệp bỏ lại trong lòng đất và ngoài bãi thải.

Rõ ràng, qua những điều phân tích ở trên cho thấy nguyên nhân của mọi nguyên nhân làm tăng cao xuất khẩu than là do giá than bán trong nước quá thấp. Việc duy trì cơ chế giá than nội địa thấp, nhất là giá than bán cho các hộ tiêu thụ chính (điện, xi măng, phân bón, giấy) không những gây nhiều tiêu cực trong buôn bán và xuất khẩu than, không phản ánh đúng thực chất hiệu quả kinh doanh và năng lực cạnh tranh của các hộ sử dụng than mà còn góp phần làm cho việc sử dụng than lãng phí, làm tăng tổn thất than trong quá trình khai thác, sàng tuyển và làm tăng đà suy thoái môi trường, gây nhiều thiệt hại cho nền kinh tế, đẩy nhanh quá trình cạn kiệt nguồn “vàng đen” hữu hạn không thể tái tạo của đất nước.

Điều đó không phù hợp với chủ trương đã đề ra trong Nghị quyết Đại hội X của Đảng ta và “Tăng cường quản lý, bảo đảm khai thác tài nguyên khoáng sản hợp lý và tiết kiệm; xây dựng và thực hiện nghiêm các quy định về phục hồi môi trường các khu khai thác khoáng sản và các hệ sinh thái bị xâm phạm, bảo đảm cân bằng sinh thái”.

2. Vấn đề phát triển bền vững ngành than

2.1 Các thách thức

Theo dự báo trong dự thảo Quy hoạch phát triển ngành than đến năm 2015, có xét triển vọng đến năm 2025 (hiện đang trình Bộ Công nghiệp phê duyệt) thì nhu cầu than tiêu thụ trong nước như sau (triệu tấn): năm 2006: 18,4 - 18,7; năm 2010: 29,4 - 31,8; năm 2015: 37,2 - 50,7; năm 2020: 71,5 - 75,4; năm 2025: 112,3 - 118,1.

Trong khi mức sản lượng than nguyên khai dự kiến khai thác là (triệu tấn): năm 2006: 39,6; năm 2010: 49,3; năm 2015: 54,8; năm 2020: 62,9; năm 2025: 65,7 và sản lượng than sạch là: 2006: 35,1; năm 2010: 44,2; năm 2015: 49,8; năm 2020: 57,3; năm 2025: 60,3. Sản lượng than không thể tăng hơn được nữa do nguồn trữ lượng than có thể khai thác bằng công nghệ hiện có là rất hạn chế; thậm chí mức sản lượng nêu trên còn giảm nữa nếu loại trừ phần sản lượng (9 - 12 triệu tấn) dự kiến khai thác từ mỏ Bình Minh (Khoái Châu) thuộc bể than đồng bằng Bắc Bộ hiện đang chưa tìm được công nghệ khai thác thích hợp. Như vậy, sau năm 2015 nền kinh tế sẽ thiếu than, nhất là sau 2020 sẽ thiếu trầm trọng. Qua đó cho thấy những thách thức đối với ngành than trong thời gian tới như sau:

1) Nhu cầu than trong nước tăng cao, trong khi khả năng tăng sản lượng không thể đáp ứng như nêu trên.

2) Tài nguyên than nói chung và điều kiện khai thác nói riêng ngày càng khó khăn, phức tạp hơn thể hiện trên các khía cạnh:

a) Các mỏ lộ thiên hiện có ngày càng xuống sâu kéo theo phải giải quyết các vấn đề ổn định bờ mỏ, thoát nước, đổ thải, cung độ vận tải, môi trường khí hậu;

b) Các mỏ hầm lò hiện có ngày càng xuống sâu, đi xa kéo theo phải giải quyết các vấn đề khí mỏ, địa chất thuỷ văn, cung độ vận tải v.v…

c) Nguồn tài nguyên than đã được thăm dò xác minh và có điều kiện khai thác thuận lợi đang cạn kiệt dần, phải đưa vào khai thác phần tài nguyên trữ lượng than nằm ở dưới sâu, vùng xa, hoặc nằm dưới những vùng đòi hỏi phải bảo vệ nghiêm ngặt các công trình hoặc cấu tạo trên bề mặt. Mặt khác, nguồn tài nguyên than tiềm năng, nhất là ở đồng bằng Bắc Bộ không những chưa được thăm dò xác minh mà còn có điều kiện khai thác hết sức khó khăn, chưa tìm được công nghệ khai thác thích hợp.

3) Việc đảm bảo an toàn và bảo vệ môi trường trong quá trình khai thác đòi hỏi ngày càng nghiêm ngặt hơn.

4) Để tăng nhanh sản lượng đòi hỏi nhu cầu vốn đầu tư rất cao, trong khi nguồn vốn tự có trong ngành, nguồn vốn trong nước rất hạn hẹp và giá bán than trong nước rất thấp so với giá thành; việc tăng giá than trong nước, nhất là than bán cho sản xuất điện (là nhu cầu than chủ yếu trong tương lai) lại rất nhạy cảm về mặt xã hội. Cụ thể là, mặc dù chưa chính tính đúng, tính đủ nhưng theo dự tính trong dự thảo Quy hoạch phát triển ngành than đã nêu trên thì tổng nhu cầu vốn đầu tư từ 2006 đến 2025 là 89102 tỷ đồng, bình quân 4455 tỉ đồng/ năm (tương đương khoảng 270 triệu USD/ năm) và giá thành than trong những năm tới càng ngày tăng cao do các yếu tố làm tăng chi phí sản xuất là rất lớn.

5) Sự hội nhập kinh tế khu vực, quốc tế và toàn cầu hóa làm cho tính cạnh tranh cả trên thị trường than thế giới và trong nước ngày càng quyết liệt hơn.

Tóm lại, các thách thức trên là đa chiều, đa diện đối với ngành than: Việc tăng nhanh sản lượng than và nâng cao khả năng cạnh tranh diễn ra trong điều kiện nguồn tài nguyên trữ lượng than thuận lợi ngày càng cạn kiệt, điều kiện khai thác ngày càng khó khăn, yêu cầu đảm bảo an toàn và bảo vệ môi trường ngày càng nghiêm ngặt, đòi hỏi nhu cầu vốn đầu tư lớn, chi phí khai thác cao trong khi giá bán than trong nước rất thấp và việc xuất khẩu than bị hạn chế do phải đáp ứng nhu cầu than của nền kinh tế tăng cao.

Qua những điều phân tích trên đây cho thấy nguồn “vàng đen” của nước ta là hạn chế, lẽ ra đó là nguồn nguyên nhiên liệu quý giá dành để phục vụ cho nhu cầu sử dụng của các ngành kinh tế quốc dân nhưng do giá than trong nước thấp nên phải xuất khẩu một phần để đảm bảo cân đối tài chính cho ngành than; lẽ ra phần lợi nhuận thu được từ xuất khẩu than dùng để đầu tư tiếp tục tìm kiếm, thăm dò tài nguyên; mở rộng sản xuất; đảm bảo an toàn lao động; bảo vệ môi trường và phát triển nguồn nhân lực nhằm phát triển bền vững ngành than thì lại đem bù lỗ cho một số ngành sử dụng than trong nước.

2.2. Giải pháp

Qua tính toán, phân tích các phương án khác nhau cho thấy phương án hợp tình, hợp lý nhất có hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất phù hợp với quy luật kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hoá để giảm thiểu xuất khẩu than là thực hiện lộ trình thị trường hoá giá than trong nước theo tinh thần đến năm 2010 bằng giá FOB xuất khẩu và đến năm 2020 bằng giá CIF nhập khẩu. Khi đó sản lượng than khai thác được sẽ dành tối đa cho nhu cầu than trong nước, chỉ xuất khẩu lượng than thừa và sau năm 2015 mới phải nhập khẩu than; ngành than không những cân đối, tự chủ được tài chính mà còn có tích luỹ để đầu tư phát triển các ngành nghề khác theo phương châm “đi lên từ than, phát triển trên nền than”. Chỉ có như vậy mới tạo điều kiện cho ngành than phát triển bền vững, khai thác tận thu tối đa tài nguyên nhằm đáp ứng một cách chủ động nhu cầu than ngày càng tăng cao của nền kinh tế, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia; khắc phục các bất cập hiện nay do giá than thấp gây ra; đồng thời cũng là một công cụ để buộc các ngành phải sử dụng than tiết kiệm, hiệu quả hơn nhằm giảm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng khả năng cạnh tranh để vững vàng bước vào hội nhập với những thách thức cam go hơn đang chờ đón.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.