Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 10/06/2008 23:59 (GMT+7)

Ghi nhận bước đầu lịch sử khai phá vùng Thất Sơn

Thiên Cẩm Sơn hay Cẩm Sơn thường được gọi là Núi Cấm theo âm giọng nặng nề của những lưu dân Hai Huyện (1) đầu tiên tiến về phía tây khai phá cứ địa cuối cùng của miền đất "Tiền Tam Giang Hậu Thất Lĩnh"(2). Thực ra Thất Sơn không phải là bảy ngọn núi như người ta vẫn thống kê trong các thư tịch hay truyện kể (3). Đó là một vùng núi rừng đúng nghĩa, với các khu rừng nguyên sinh rậm rạp ở các độ cao khác nhau, từ rừng trầm dó bầu hay rừng thiên tuế ở trên ngọn cao năm bảy trăm mét đến các cánh rừng bảy thưa ở dưới chân núi, vây quanh bởi các rừng tràm hoang sơ vô tận giữa vùng đầm lầy (trấp) mà chỉ các con rạch (ô) lớn nhỏ cháy qua mới thông thuộc đường đi lối về.  

Việc khai phá Thất Sơn có thể đã bắt đầu trước hoặc sau khi Nguyễn Hữu Cánh đến đất Gia Định thiết lập nền hành chính Nam Bộ năm 1698, và được đẩy mạnh khi chúa Nguyễn đặt đạo Châu Đốc năm 1757 làm nền táng mở mang vùng đất Châu Đốc tân cương. Nhưng phải đến giữa thế kỷ 19 thì việc định cư lưu dân mới trở thành quy củ theo sau tổ chức "trại ruộng" của Đoàn Minh Huyên mà người đời sau tôn là Phật Thầy Tây An. Tương truyền Phật Thầy người gốc làng Đoàn của trại Hoà Ninh (4), định cư ở làng Tòng Sơn vùng Sa Đéc, đến khai phá vùng đất thuỷ bạc gọi là láng, dưới chân Núi Cấm từ năm 1850 , truyền dạy đệ tử cả về triết lý đạo giáo, tổ chức cộng đồng, trấn áp thú dữ. Vào thời Phật Thầy đến vùng Thất Sơn thì lưu dân Hai Huyện đã mở rộng đến đất Tân Bình bên bờ sông Hậu, nay là huyện Lấp Vò, trước đó khi chúa Nguyễn Phúc Ánh bôn đào thì bỏ gia nhân ở lại Nha Mân gần làng Tòng Sơn, năm 1782 chúa cho đắp con đập giữ nước ở chân Núi Cấm để binh lính dùng, nay gọi là đập Gia Long.

Thực ra con đập Gia Long chỉ được phát hiện một cách tình cờ. Vào hôm Chủ tịch tỉnh và Trưởng ty Thuỷ lợi Nguyễn Quang Hơn cùng tôi đi tìm vị trí xây dựng hồ chứa thì trong tay chỉ có mỗi một bản đồ không ảnh photopictomap 1/25.000. Chúng tôi lần mò tiến về phía nguồn theo các lối mòn thợ săn giữa những rừng cây và bất chợt đi vào địa hình đắp cao kéo dài hơn 200 mét chặn ngang khe núi. Nhưng nước của dòng thác Thanh Long nằm lưng chừng núi không đố xuống đây mà biến mất đâu đó giữa một cánh rừng nằm dưới tầm mắt. Bỏ lại đoàn người, tôi cố sục sạo nhưng vẫn không tìm ra con suối, cho đến khi chúng tôi mở lối về phía bắc theo hướng núi Bà Đội thì dòng nước mới xuất hiện. Con đập được xây tại đó tạo thành hồ chứa An Hảo (nay nằm trong khu du lịch Lâm Viên Núi Cấm) đúng 200 năm sau con đập Gia Long và cũng cách đập này 200 mét về phía hạ lưu.

Xem ra con đường tiếp cận vùng núi Thất Sơn vào thời Nguyễn Ánh là rạch Cần Thảo ở phía bắc và rạch Mặc Cần Dưng ở phía nam; Cần Thảo nối với Vàm Nao qua đạo Châu Đốc ở cù lao Khánh Hoà trong khi Cần Dưng nối với Lấp Vò qua cảng đạo Đông Xuyên nằm đối diện thành phố Long Xuyên ngày nay (5). Lúc bấy giờ các dòng nước còn rộng và sâu, ngọn các con rạch từ nguồn sông Hậu đều nối với thuỷ vực rộng lớn nằm xuôi theo rặng núi giữa các rừng cây, mà mỗi mùa lụt nước ngập lênh láng - cư dân gọi là Láng Linh. Có lẽ Phật Thầy cũng đến Láng Linh qua rạch Cần Thảo, rồi sau đó các nhóm đệ tử tiếp tục mở rộng thêm nhiều "trại ruộng" giữa vùng thuỷ bạc (6) trước khi tiến lên khai khẩn vùng bán sơn địa nơi đất Ngũ Hồ (7) ở Thới Sơn, từ sau tiến về Lạc Quái, Giang Thành, Ba Chúc theo đường kinh Vĩnh Tế (8).

Non nước Thất Sơn - mà Cẩm Sơn nổi lên ở giữa thành khối trung tâm với đỉnh Bò Hong nhô cao 716 mét - là một vùng đất "mầu nhiệm" khả dĩ thu hút con người, không chỉ ngày nay mà cả thuở xưa. Chính nơi đây, ở Sdachao trong các thế kỷ trước Công nguyên, mà một quốc gia – đô thị đầu tiên ở vùng Đông Nam Á bắt đầu hình thành (9) với sự giao tiếp của những người Arikan miền Đông Ấn - biểu trưng bởi thương nhân Hỗn Điền - và cư dân Óc Eo bản địa - biểu trưng bởi công chúa Liễu Diệp con gái vị thần Mặt Trăng. Hiện tượng "giao phối" này tạo thành xã hội quy củ đầu tiên ở vùng Thất Sơn mà truyền thuyết gọi là xứ Tà Lọt (Koh Thlok). Người đời sau gọi Núi Cấm là Phnom Thlok và những người có được sức mạnh huyền bí ở đó được coi là những vị chân tu của núi Tà Lơn. 

Kỷ nguyên khoa học đến với núi rừng Thất Sơn khá trễ, có thể bắt đầu từ nửa đầu thế kỷ 20 bằng huyền thoại Bác vật Lang cùng người Pháp đến thám sát các hang sâu - vùng Thất Sơn có rất nhiều hang núi như ở Tưk Dụp, với các ngõ ngách ăn thông với nhau như thành phố ngầm. Nhưng rồi từ đó viên Kỹ sư công chánh tài ba không còn nói được nữa! Mãi đến 1957, Linh mục Henri Fontaine làm việc ở Nha Tài nguyên Thiên nhiên mới có các cuộc thám sát chi tiết. Lúc bấy giờ những cố gắng tiếp cận Thất Sơn với các thiết bị quan trắc đặt trên máy bay đều thất bại, do những nhiễu xạ và cả những dị thường trọng lực, dị thường từ ở tầm thấp nơi Vồ Bà, nơi mõm Thmor Kô, nơi đồi Phnom Touch... May mắn trong các năm 1983-1984, theo sau công trường An Hảo, tôi lại được sự giúp đỡ của lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và tỉnh An Giang để tiếp tục thu thập thực địa các dữ liệu địa chất và địa vật lý, ở những vị trí đặc biệt đó. 

Có lẽ lở núi kinh hoàng và rộng khắp cuối năm 1983 đã thực sự thức dậy núi rừng Thất Sơn, ban đầu là những người tò mò, sau là các khách hành hương tin lời sấm giảng, cuối cùng là các di dân tìm đến định cư ở đồng thấp, ở triền cao và cả ở trên các ngọn núi. Ngày nay cư dân và khách du lịch có thể tìm lên bất kỳ đỉnh nào bằng các đường mòn khám phá, các lối đi truyền thống bên này qua thác Thanh Long hoặc bên kia qua đồi Thlok, hay bằng chính con đường "cái quan" mới được khánh thành tháng 7 năm 2007. Nhưng trong tiết xuân này, khi mà không gian trở nên rạo rực dưới ánh nắng mới, tôi ước được về lại nơi đó: Cũng những lối mòn và bậc đá thấp cao, cũng với Châu Sóc Bai “tâu rờ thmor” (đi coi đá), cũng với Bô Pha tìm bắt các con thằn lằn đá, và nhất là hòa mình vào không gian huyền diệu để nhận ra triết lý nhân sinh ông cha ngày trước như vẫn luôn phảng phất đâu đó.

_____________

Chú giải:

(1) Hoàng Xuân Phương: Lục bình trôi( Kiến thức ngày nay621): Ngay từ đầu ở Chợ Mới lưu dân tổ chức thành các xã hội mẫu mực, tứ danh “nhất Đồng Nai, nhì Hai Huyện”. Hai Huyện ở đây là Bình Chính và Bố Chính thuộc vùng sông Gianh mà cac sách sử ghi là Chinh, đến 1074 thì đổi là Chính, ở đây gọi là Chiêng hay Giêng như trong Cù lao giêng.

(2) Tam Giang gồm 3 đoạn sông liên quan đến bước tiến của lưu dân, gồm sông Tiền, sông Hậu và sông Vàm Nao nơi tập trung các vạn chài. Hoàng Xuân Phương, đd: Thuở xưa ở nơi Vàm Trước tức cửa trên của sông Vàm Nao có một làng chài gọi là Vạn Chiêng, cũng gọi là Nao. Cuối thế kỷ 17 khi Chương binh Nguyễn Hữu Cảnh đặt đại bản doanh ở đó thì đổi Vàm Nao thành Thuận Giang nhằm lưu dấu nguồn gốc Thuận Hoá của các nhóm lưu dân.

(3) Thất Sơn hay Bảy Núi là ngôn ngữ văn hoá (tam - thất, ba - bảy) nên việc liệt kê chỉ mang tính tượng trưng. Tên gọi Thất Sơn được ghi lần đầu năm 1865 trong Đại Nam nhất thống chí, gồm Tượng Sơn, Tô Sơn, Cấm Sơn, Ốc Nhâm, Nam Vi, Tà Biệt, Nhơn Hoà. Trong khi đó tên gọi truyền khẩu của ông bà thời trước gồm Anh Vũ Sơn tức Núi Két, Ngũ Hồ Sơn tức Núi Dài năm giếng, Thiên Cẩm Sơn tức Núi Cấm, Liên Hoa Sơn tức Núi Tượng, Thuỷ Đài Sơn tức Núi Nước, Ngoạ Long Sơn tức Núi Dài và Phụng Hoàng Sơn tức Núi Tô.

(4) Hoàng Xuân Phương: Chớp bể mưa nguồn( Kiến thức ngày nay617): Khi nhà Hán thôn tính nước ta, đặt làm hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân, thì cũng đặt ở phía nam Đèo Ngang một quận Nhật Nam . Theo đó huyệtn Việt Thường năm ở thượng nguồn Rào Tró, huyện Tỷ Cảnh ở Vực Tró nơi vùng động Phong Nha – sách cổ viết là Phong Hoả, và đặt huyện Tay Quyển ở Hoà Ninh nơi sau này Lâm Ấp xây thành Khu Túc, có nghĩa là lẫm lúa. Năm 286 đời Tấn chia Tây Quyển mà đặt thêm huyện Thọ Linh. Sử gia Châu Khứ Phi đời Tống viết trong Lãnh Ngoại Đại Đáprằng trại Hoà Ninh – mà nay nằm trong khoảng Nương Cộ của xã Quảng Hoà – là một trong 24 châu lộ thời Lý. Đến năm 1069 thì trại này đổi tên thành châu Bố Chính, tức Quảng Bình ngày nay.

(5) Đối diện Đông Xuyên cảng đạo ở bờ bên kia sông Hậu là ngọn Ba Rạch, nay là sông Long Xuyên đổ nước ra vịnh Rạch Giá. Nhưng năm 1777, quan binh chúa Nguyễn có vẻ không theo đường này mà theo Mặc Cần Dưng chạy thẳng ra cửa Vàm Rây rồi tìm nơi ẩn náu ở Hà Tiên, Phú Quốc, Thổ Chu, đến khi tập trung được lực lượng thì mới trở về lập căn cứ ở Thất Sơn.

(6) Năm 1867 khi thành Châu Đốc rơi vào tay quân Pháp thì Quản cơ Thành và Đề đốc Văn cũng rút về hùng cứ ở Láng Linh, lập đoàn binh Gia Nghị, đóng quân trong rừng bảy thưa ở Tú Tề.

(7) Đất Ngũ Hồ rộng gần trọn huyện Tịnh Biên ngày nay. Trước đây nơi đó có các hồ nước đọng lại dưới chân núi trên nền đất sứ trắng, cư dân đến đó khai khẩn ruộng rẫy. Trung tâm của Ngũ Hồ là Núi Dài năm giếng đối diện mõm núi Ông Két.

(8) Kinh Vĩnh Tế hay Vĩnh Tế Hà được khai đào trong 5 năm, từ 1819 đến 1824 dưới quyền thống suất của Nguyễn Văn Thoại. Nhưng lúc đầu người ta không mấy sử dụng vì đất địa ở đó còn hoang vu chướng khí. Địa danh Châu Đốc có nghĩa là đất cuối, là địa đầu.

(9) Sdachao, Ba Thê và Angkor Borei lần lượt là trung tâm của quốc gia – đô thị (state-city) ở đồng bằng sông Cửu Long trong các thế kỷ đầu Công nguyên. Đến giữa thế kỷ thứ 7 khi kỳ biển tiến Đông Hải đạt đỉnh cao thì cư dân phân hoá làm hai, một sinh sống trên các cù lao trở thành những thương đoàn của đế quốc Sri Vijaya, một lùi lên canh tác đất đai vùng cao thiết lập đế chế Angkor. Vùng hạ lưu đồng bằng sông Cửu Long được coi là hoang vắng kể từ đỉnh cao Đông Hải đến thế kỷ 13, ngoại trừ các cồn nổi dọc theo sông Hậu và đới nâng Vĩnh Châu. Đến sau thế kỷ 15 thì mới có rải rác lưu dân từ các nơi đổ tới, và đến cuối thế kỷ 17 thì lần đầu tiên được chính thức thiết chế hành chánh bởi chúa Nguyễn của Đại Việt.

Nguồn: Xưa & Nay, số 304, tháng 3/2008, tr 10

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.