Đưa Việt nam trở thành một quốc gia mạnh về biển
Khái niệm “một quốc gia mạnh về biển” – theo quan điểm của Đảng, nên được hiểu như thế nào cho đúng và làm gì để đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển? Đó là những vấn đề rất có ý nghĩa đối với toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta trong giai đoạn hiện nay, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu mà Đảng đề ra.
Là một quốc gia đang phát triển, mục tiêu của Việt Nam không nhằm phấn đấu trở thành một cường quốc về biển giống như mục tiêu mà một số nước khác theo đuổi. Chính sách cơ bản của Việt Nam trong thời gian trước mắt, chủ yếu là cố gắng áp dụng các thành tựu khoa học – công nghệ, quản lý biển tiên tiến của thế giới để khai thác, sử dụng và bảo vệ vững chắc các vùng biển, đảo của Việt Nam; tăng cường một bước thế - lực đảm bảo thực hiện chủ quyền quốc gia trên biển, đồng thời có điều kiện giải quyết hoà bình các tranh chấp về biển, đảo với các quốc gia khác, tạo điều kiện củng cố, tăng cường môi trường thuận lợi cho hợp tác quốc tế vì mục tiêu phát triển đất nước và sự thịnh vượng chung của khu vực. Quốc gia mạnh về biển, thực chất là quốc gia phát huy được lợi thế, đồng thời đủ khả năng cần thiết thực hiện quyền làm chủ trên các vùng biển, đảo thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia.
Để phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta phải nỗ lực thực hiện chiến lược tổng hợp gắn với từng mục tiêu cụ thể mà Đảng đã đề ra, như:
Về kinh tế - xã hội:Phấn đấu đến năm 2020, kinh tế trên biển và ven biển đạt tốc độ tăng trưởng cao, đóng góp khoảng 53 – 55% tổng GDP của cả nước; thực hiện tốt các chính sách xã hội, mà trước hết là cải thiện một bước đáng kể đời sống nhân dân vùng biển và ven biển, trong đó thu nhập bình quân đầu người khu vực này đạt mức cao gấp 2 lần so với thu nhập bình quân chung của cả nước. Thực tế hiện nay cho thấy, ở các vùng biển và ven biển nước ta (ngoại trừ một số các đô thị) trình độ kinh tế - xã hội còn thấp kém so với nhiều vùng miền khác; cuộc sống của số đông dân cư, nhất là ở vùng bãi ngang rất khó khăn; mặt bằng dân trí thấp. Vì lẽ vậy, vấn đề phát triển kinh tế - xã hội vùng biển và ven biển phải được coi là vấn đề then chốt, cần chú trọng ưu tiên. Tạo điều kiện cho bước phát triển đột phá, nhảy vọt của kinh tế - xã hội vùng biển không chỉ nhằm bảo đảm sự phát triển cân bằng giữa các vùng miền, mà còn là động lực to lớn thúc đẩy nền kinh tế của cả nước phát triển.
Về lĩnh vực đối ngoại: Phải tăng cường mở rộngmối quan hệ hợp tác quốc tế, đưa quan hệ hợp tác quốc tế lên tầm cao mới, phát triển toàn diện và luôn giữ thế chủ động trong quá trình hợp tác nhằm phục vụ tích cực cho nhu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bước vào thời kỳ hội nhập ngày càng sâu hơn trên tất cả các lĩnh vực của thế giới, vấn đề quan trọng nhất đối với Việt Nm là cần phải triệt để phát huy các lợi thế vốn có của mình tạo thế, lực trong quá trình cạnh tranh phát triển, bảo đảm hội nhập đạt hiệu quả như mong muốn. Cần phải hiện thực hoá các lợi thế trong mọi mối quan hệ, hợp tác quốc tế để thu hút nguồn vốn, thúc đẩy kinh tế biển tăng trưởng vượt bậc, đồng thời tạo sức mạnh của quốc gia trên biển.
Về lĩnh vực quốc phòng – an ninh:Mục tiêu chiến lược của Việt Nam là bảo vệ vững chắc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển. Trong đó: “Nhiệm vụ cơ bản, lâu dài và xuyên suốt là xác lập chủ quyền đầy đủ, quản lý và bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền tài phán vùng biển, thềm lục địa, hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các quần đảo, đảo khác thuộc chủ quyền của nước ta. Nhiệm vụ trước mắt là phải bảo vệ toàn vẹn chủ quyền và lợi ích quốc gia trên vùng biển, đảo, duy trì hoà bình, ổn định và hợp tác phát triển”. Mục tiêu và những nhiệm vụ cụ thể đó cho thấy, chính sách quốc phòng – an ninh của Việt Nam trên hướng biển, chủ yếu chỉ giới hạn trong phạm vi: bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia trên biển; đảm bảo tốt quyền kiểm soát của nước ta trên các vùng đặc quyền kinh tế, vùng thềm lục địa Tổ quốc; tham gia vào các hoạt động hợp tác quốc tế trên biển; bảo vệ tài nguyên và môi trường biển cả vì lợi ích lâu dài của con người. Chính sách này không gây ảnh hưởng xấu tới lợi ích, chủ quyền của các nước khác trong khu vực và trên thế giới; không có tư tưởng bá chủ hay tạo sự cạnh tranh thiếu lành mạnh trên các vùng biển, đảo nói chung.
Để thực hiện thành công Chiến lược biển cần nắm vững một số yêu cầu có tính nguyên tắc như: luôn quán triệt và thấu suốt quan điểm về sức mạnh của quốc gia trên biển là sức mạnh tổng hợp, sức mạnh toàn dân; Chiến lược về biển là một chiến lược tổng hợp, ở đó có sự gắn bó chặt chẽ, biện chứng giữa chiến lược quốc phòng – an ninh với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược đối ngoại; phải tuân thủ luật pháp quốc tế, phải cố gắng giải quyết mọi vấn đề tranh chấp trên biển bằng biện pháp hoà bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích dân tộc. Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 4 (khoá X) khẳng định: “Phát huy sức mạnh tổng hợp, giữ vững độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, vùng trời của Tổ quốc; kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp đấu tranh chính trị, ngoại giao, pháp lý, kinh tế, quốc phòng trong quản lý vùng trời, bảo vệ biển, đảo của Tổ quốc”.
Hướng tới mục tiêu đưa nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển là một chiến lược toàn diện nằm trong chiến lược phát triển chung của quốc gia. Chiến lược đó bảo đảm cho Việt Nam có nền kinh tế biển phát triển năng động, nhanh, mạnh, bền vững góp phần thúc đẩy nền kinh tế cả nước đi lên, đồng thời đủ khả năng bảo vệ và làm chủ vững chắc các vùng biển, đảo thuộc chủ quyền quốc gia trên biển. Trong bối cảnh hiện nay của đất nước, gắn với xu thế phát triển thời đại, vấn đề thực hiện thành công chiến lược này đồng nghĩa với việc Việt Nam là một quốc gia mạnh về biển, cần phải luôn được ưu tiên, coi trọng.








