Dự án khí sinh học (biogas) được nhận giải thưởng năng lượng toàn cầu 2006
Kỹ thuật KSH đã phát triển từ nhiều năm nay tại nhiều nước trên thế giới, vì sao Dự án KSH tại Việt Nam do Hà Lan tài trợ lại được giải thưởng lớn như vậy? Bài viết của KS Nguyễn Thường, nguyên Điều phối viên Dự án KSH sẽ nói rõ vấn đề này.
1. Xây dựng dự án và vận động tài trợ
Tháng 1 - 1999 tổ chức tư vấn ETC energy (Hà Lan) thông báo cho Trung tâm Phát triển năng lượng bền vững (VSED) về việc Bộ Ngoại giao Hà Lan có quỹ tài trợ cho các dự án có tác dụng giảm khí thải nhà kính (chủ yếu là CO 2), và đề nghị VSED hợp tác cùng ETC xây dựng dự án để xin tài trợ.
Sau khi so sánh một số giải pháp giảm CO 2. ETC và VSED thống nhất chọn dự án KSH để xây dựng. Trong nội dung dự án có 3 vấn đề chính cần giải quyết là:
- Chọn thiết kế bể KSH nào trong số các thiết kế đã thử nghiệm nhiều năm ở trong nước? Hai mẫu KT1 và KT2 của Viện Năng lượng đã được chọn để triển khai trong dự án, vì hai mẫu này đã được tính toán hợp lý nhất, đã qua thử nghiệm nhiều năm, đảm bảo chất lượng và giá thành hợp lý đã xây dựng thành tiêu chuẩn TCN 492 - 499/2002.
- Cơ quan nào chủ trì dự án là hợp lý nhất? Những người nghiên cứu nhận thấy Cục Khuyến nông thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan quản lý phát triển chăn nuôi gia súc (đảm bảo nguồn phân cho phát triển KSH) chủ trì dự án là hợp lý nhất.
- Dự án là giai đoạn đầu phát triển KSH trên quy mô lớn vì vậy nhà tài trợ đã đồng ý trợ giá cho các hộ chăn nuôi muốn xây dựng công trình KSH 1.000.000 đ cho một công trình không phụ thuộc cỡ bể phân huỷ để khuyến khích phát triển.
Sau 21 tháng xây dựng, ngày 1 - 10 - 2000 văn kiện dự án đã được nộp cho Bộ Ngoại giao Hà Lan để đề nghị tài trợ. ETC và VSED đã bảo vệ dự án trước các cơ quan của Bộ Ngoại giao Hà Lan (chủ yếu qua thư điện tử). Sau khi nhận được nhà tài trợ chấp nhận, VSED đã cùng Bộ NN và PTNN trình Thủ tướng Chính phủ và các Bộ liên quan. Tháng 12 - 2002 Dự án đã được Thủ tướng Chính phủ chấp nhận và giao Bộ NN và PTNN thực hiện.
Như vậy là thời gian xây dựng dự án, vận động tài trợ và trình duyệt vừa tròn 4 năm. Trong thời gian đó tư vấn Hà Lan và Việt Nam đều phải tự lo kinh phí cho mình.
2. Mục tiêu và những kết quả đạt được
Mục tiêu ban đầu của dự án (giai đoạn 2003 - 2005): Xây dựng 10 000 công trình KSH quy mô gia đình ở 10 tỉnh. Tuy nhiên nhờ sử dụng hợp lý nguồn vốn, huy động thêm sự đóng góp của địa phương và nhà tài trợ tăng thêm kinh phí nên đến hết 2006 đã xây dựng được 26 516 công trình ở 20 tỉnh gồm:
- Sơn La, Lạng Sơn, Hoà Bình, Phú Thọ, Thái Nguyên (vùng trung du và miền núi phía Bắc).
- Hà Nội, Hà Tây, Bắc Ninh, Hải Dương, Hải Phòng, Hà Nam, Ninh Bình (vùng đồng bằng Bắc Bộ).
- Thanh Hoá, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Bình Định (miền Trung)
- Đắc Lắc (Tây Nguyên)
- Đồng Nai (Đông Nam Bộ)
- Tiền Giang (Tây Nam Bộ)
Kết quả về năng lượng: Năng lượng sản sinh: 1.070.000 tỷ KJ
Kết quả về môi trường: Giảm phát thải khí nhà kính: 107.000 tấn CO 2
Kết quả về thay thế nhiên liệu:
- Sinh khối: 208.022 kt Biomass
- Than antraxit 12.834 tấn
- Dầu lửa 2.200 tấn
- Khí hoá lỏng (LPG) 208.022 bình 13 kg
Kết quả về kinh tế xã hội:
- Đáp ứng nhu cầu năng lượng và môi trường của 159.096 người
- Giảm khối lượng việc nhà (phụ nữ và trẻ em) 5.348 người
- Giảm lượng khí ô nhiễm trong nhà, tác động đến phụ nữ và trẻ em 79.548 người
- Số công trình phụ nối với công trình KSH 10.606 công trình
- Số hộ sử dụng bã thải KSH trong trồng trọt 14.548 hộ
- Tạo công ăn việc làm trực tiếp cho 1.856 người
3. Phát triển bền vững thị trường khí sinh học
Mục tiêu quan trọng của dự án là xây dựng và phát triển bền vững thị trường KSH tại Việt Nam . Nội dung của mục tiêu này là trên cơ sở những kết quả ban đầu do dự án tài trợ, KSH sẽ phát triển như một thị trường, nghĩa là các hộ chăn nuôi gia súc sẽ tự mình bỏ vốn và thuê thợ xây dựng công trình KSH cho mình, không cần hỗ trợ của dự án.
Để KSH phát triển bền vững, dự án đào tạo cho các địa phương đội ngũ kỹ thuật KSH (kỹ thuật viên và thợ xây dựng công trình KSH) nắm vững lý thuyết, kỹ thuật xây dựng và bảo dưỡng công trình KSH. Kỹ thuật viên là các kỹ sư do Trung tâm khuyến nông tỉnh và Nông nghiệp huyện lựa chọn để đào tạo về kỹ thuật KSH trong 14 ngày (lý thuyết và thực hành). Thợ xây KSH là các thợ xây lành nghề do huyện chọn để đào tạo về kỹ thuật KSH trong 8 ngày. Sau khi hoàn thành các khoá đào tạo, các kỹ thuật viên và thợ xây KSH được Cục Khuyến nông - Bộ NN & PTNN cấp chứng chỉ.
Các KTV và thợ xây KSH đều là người địa phương nên họ đã làm tốt các công trình tại địa phương, nhờ đó tạo dựng tín nhiệm với dân không những việc đảm bảo chất lượng xây dựng mà còn hỗ trợ người dân bảo dưỡng công trình trong thời gian sử dụng. Đối với các nước, đây là kinh nghiệm mới của Việt Nam ; ở nước các nước khác họ đều tổ chức các công ty xây dựng KSH. Sau khi hoàn thành, các công ty này rút đi, khi đó người dân không có ai hỗ trợ khi công trình gặp trục trặc. Chính vì lý do này nên trong văn kiện dự án, tư vấn nước ngoài đề xuất tỷ lệ công trình không hoạt động tới 2%, nhưng ở Việt Nam tỷ lệ này là 0%, có nghĩa là 100 % công trình đều hoạt động tốt.
Đối với các hộ chăn nuôi hàng chục đầu lợn, vấn đề rất bức xúc với họ là tình trạng ô nhiễm môi trường đối với gia đình và làng xóm. Trước khi dự án triển khai, mặc dù biết KSH là giải pháp tốt nhất để giải quyết ô nhiễm môi trường, nhưng người dân không biết tìm ai, ở đâu để hỗ trợ giải quyết. Nay họ tìm đến các KTV và thợ xây KSH để thuê làm cho họ. So với số vốn đầu tư cho chăn nuôi thì chi phí xây dưụng công trình KSH chiếm tỷ lệ nhỏ, vì vậy họ sẵn sàng tự bỏ tiền ra mà không cần hỗ trợ của dự án.
Hiện nay ở nhiều tỉnh đang triển khai dự án KSH, số công trình do dự án hỗ trợ khoảng vài ngàn nhưng số công trình do người dân thuê thợ xây KSH làm còn lớn hơn. Số thợ xây KSH cũng tăng theo nhu cầu của thị trường do các thợ xây tự truyền nghề cho nhau. Đây là một nghề mới ở nông thôn. Như vậy là thị trường KSH đang hình thành ở nông thôn.
Tạo được thị trường KSH bền vững là điều mấu chốt để Liên hợp quốc và WB trao giải thưởng danh giá này cho Việt Nam , trong khi nhiều nước phát triển mô hình KSH trước ta, có số lượng các hầm biogas cũng tốt hơn mà chưa được nhận giải thưởng.
Được biết, các giải thưởng Năng lượng toàn cầu được chia thành 5 lĩnh vực: không khí, đất, nước, lửa và giới trẻ. Giải về đấtđược trao cho dự án sấy rau quả bằng năng lượng mặt trời của Kênia; Giải về nướcđược trao cho dự án lọc nước bằng sợi tổng hợp sử dụng công nghệ cao của Mỹ; Giải về lửathuộc về dự án nhà mặt trời ở Ấn Độ; Giải về giới trẻthuộc dự án nhà ở thân thiện với môi trường ở Nam Phi. Cùng với Trung Quốc và Đức, Việt Namlà một trong số 3 đề cử về không khí, và Việt Nam đã giành thắng lợi.
Dự án KSH ở Việt Nam được đánh giá là mô hình chuyển giao công nghệ năng lượng bền vững, giảm phát thải khí nhà kính và cải thiện môi trường ở nông thôn đã thành công.
Giai đoạn 2 (2007 - 2010) của dự án KSH đã bắt đầu triển khai. Mục tiêu của giai đoạn 2 sẽ triển khai trên 50 tỉnh, thành phố với quy mô 140 000 công trình. Như vậy có thể tin tưởng rằng sau 2010, thị trường KSH sẽ phát triển rộng rãi ở nông thôn toàn quốc. Thị trường KSH sẽ là giải pháp hiệu qủa nhất trong việc giải quyết năng lượng bền vững cho nông thôn, giảm phát thải khí nhà kính, cải thiện môi trường và góp phần nâng cao đời sống ở nông thôn.








