Đồng Nai: Internet băng thông rộng cho vùng sâu vùng xa - Ước mơ đã thành hiện thực
Hiệu quả về nhiều mặt
Để có những lời nhận xét như trên, đồng chí Huỳnh Văn Tới - Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ đã đi thực tế kiểm tra việc ứng dụng thực tế tại nhiều điểm có gắn trạm VSAT-IP trên địa bàn tỉnh, kết quả cho thấy tốc độ đường truyền tốt. Bên cạnh đó, ứng dụng công nghệ này vào việc triển khai các Nghị quyết của Đảng thông qua hình thức trực tuyến trên mạng Internet tại các xã vùng sâu đạt hiệu quả, giúp tiết kiệm chi phí, thời gian đi lại cho Đảng viên đã tạo thêm lòng tin cho Đảng viên, người dân và các cấp lãnh đạo. Đồng chí Huỳnh Văn Tới cho rằng, ứng dụng dự án này mang lại nhiều hiệu quả, trước hết về mặt kinh tế, giúp tiết kiệm đầu tư mà hiệu quả đạt cao; Về mặt xã hội, giúp người dân tiếp cận nhanh với thế giới mà không lệ thuộc vào hạ tầng bê tông cốt thép và là cơ sở để xã hội học tập; Về mặt chính trị, giúp đưa nhanh các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến vùng sâu vùng xa một cách chính xác nhất, nhanh nhất. Vì vậy đây là một mô hình hợp lòng dân, ý Đảng trên con đường hội nhập của đất nước.
Để có được những thành công về nhiều mặt như trên, từ giữa năm 2006, Sở KH&CN Đồng Nai đã tiến hành khảo sát tại các xã vùng sâu vùng xa và đã chọn xã Nam Cát Tiên, huyện Tân Phú là nơi lắp đặt và chạy thử nghiệm mô hình VSAT-IP và sau thử nghiệm thành công, lãnh đạo Sở đã tiến hành cho lắp đặt cho những xã vùng sâu vùng xa có nhu cầu. Cho đến nay đã có 28 xã thuộc 10 huyện, thị xã trong tỉnh có nhu cầu được lắp đặt.
Chi phí thấp
Theo ông Phạm Văn Sáng - Giám đốc Sở KH&CN Đồng Nai, sau khi phân tích các công nghệ đưa băng thông rộng về vùng sâu, vùng xa, nơi dịch vụ ADSL chưa có hoặc đầu tư không mang lại hiệu quả, công nghệ VSAT IP được lựa chọn có so sánh với giải pháp Wimax và nhận thấy tại Đồng Nai VSAT IP khả thi hơn vì dùng Wimax có những hạn chế như: Chi phí đầu tư cao,yêu cầu đầu tư ít nhất 50.000 USD tại trung tâm địa bàn và thiết bị đầu cuối (CPE) còn cao. Để có được thiết bị đầu cuối của WiMax, khách hàng phải chịu chi phí tới 300 USD/modem cộng với các thiết bị khác vào khoảng 400 USD nữa. Trong khi sử dụng qua VSAT IP khách hàng chỉ đầu tư modem VDSL giá khoảng 40USD. Không tương thích giữa thiết bị đầu cuối (CPE) và trạm tổng đài không cùng hãng sản xuất. Còn nhiều rào cản đặt ra cho việc đem công nghệ WiMAX vào Việt Nam như giá thiết bị và các dịch vụ cung cấp mà doanh nghiệp cung cấp chưa phong phú mà chỉ mang tính cầm chừng để đợi hoàn thiện chuẩn. Hiện nay, hầu hết các hãng cung cấp thiết bị viễn thông lớn (Alcatel, Siemens, Motorola…) có xu hướng đầu tư nghiên cứu sản xuất thiết bị theo hướng WiMAX di động ở chuẩn 802.16e, băng tần 2,3 - 2,5 GHz. Trong khi đó, ở Việt Nam lại thử nghiệm WiMAX chuẩn d, tại tần số 3,3 - 3,4GHz. Sự nghiêm ngặt về giấy phép, sử dụng tần số phải có giấy phép. Yêu cầu cao về đội ngũ lắp đặt chuyên nghiệp. Phạm vi phủ song Wimax hẹp, không quá 50 km, phụ thuộc địa hình.
Trên thế giới, VSAT (Very Small Aperture Terminal) là trạm trao đổi thông tin 2 chiều trên mặt đất thông qua vệ tinh, được trang bị ở mỗi trạm một anten chảo có đường kính khoảng 3m. VSAT thường được dùng để truyền thông tin thẻ tín dụng hoặc thông tin thẻ tín dụng hoặc thông tin RFID trong các phiên giao dịch dạng point of sale và VSAT còn được dùng để cung cấp dịch vụ Internet thông qua vệ tinh các vùng ở xa. Nhưng tính mới, tính sang tạo ở đây là nghĩ ra được giải pháp kết hợp VSAT IP vói hạ tầng cáp thoại sẵn có của ngành Bưu chính Viễn thông mà chưa có nơi nào trong và ngoài nước thực hiện.
Qua khảo sát các xã chưa có dịch vụ ADSL, tỉnh đã đầu tư trạm VSAT-IP cho 29 xã vùng sâu vùng xa mà nếu phát triển dịch vụ ADSL phải đầu tư 230 km cáp quang, trị giá khoảng 7 tỷ đồng. Ngoài hiệu quả tiết kiệm chi phí đầu tư, hiệu quả VSAT IP còn giúp người dân được hưởng thụ những thành quả của KH&CN, giúp rút ngắn khoảng cách số giữa thành thị và nông thôn một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất.
Theo ông Sáng, để truy cập được internet thông qua trạm VSAT-IP có nhiều mô hình để triển khai, hiện Sở đã triển khai theo ba mô hình như: lắp đặt trạm VSAT-IP theo mô hình kết hợp công nghệ VSAT-IP và mạng LAN; mô hình kết hợp công nghệ VSAT-IP, Router SHDSL, Modem ADSL và mạng LAN; mô hình kết hợp công nghệ VSAT-IP, Router, DSLAM, Modem ADSL và mạng LAN. Cụ thể, Để truy cập vào internet tại xã Nam Cát Tiên, đầu tiên ta lắp đặt 1 trạm VSAT-IP đặt ở trung tâm xã, tại nơi đặt trạm VSAT-IP, ta đưa tín hiệu internet vào 1 Switch thứ nhất (8 Port, tuỳ theo có bao nhiêu địa điểm thì ta chọn loại Switch có số lượng port phù hợp). Sau đó ta dùng cáp RJ45 kéo từ Swich đặt tại trạm VSAT-IP đến những địa điểm trên. Mỗi địa điểm này ta có thể gắn 1 Switch thứ hai nữa để chia sẻ tín hiệu internet cho các máy trong một điểm. Trạm VSAT-IP tự động cấp địa chỉ IP cho nên tuỳ theo số lượng máy tính truy cập mà thiết bị sẽ cấp cho mỗi máy. Mặc định sẽ cấp là 254 địa chỉ IP tương ứng với 254 máy tính truy cập cùng lúc. Chi phí đầu tư trạm VSAT-IP cho mô hình này tốn 1,7 triệu (trong đó gồm cước đấu nối hoà mạng VSAT-IP, trụ bê tông và công lắp đặt).
Ông Đỗ Thành Bổn - Chủ tịch UBND xã Nam Cát Tiên, địa phương được ứng dụng công nghệ VSAT-IP đầu tiên nhận định, việc Sở KH&CN Đồng Nai đưa công nghệ này về địa phương đã giúp cho địa phương tiếp cận với nhiều tri thức mới, nhất là việc địa phương không xem được truyền hình Đồng Nai nay không chỉ xem được truyền hình Đồng Nai mà còn xem được nhiều kênh truyền hình khác bằng hình thức trực tuyến. Đặc biệt nhất là việc sử dụng đường truyền vào triển khai học tập chính trị bằng hình thức trực tuyến trên Internet cho 250 Đảng viên tại xã. Ngoài ra, tại trường mẫu giáo và trường THCS, giáo viên và học sinh đã được sử dụng Internet tốc độ cao vào công tác giảng dạy, học tập. Đây thật sự là là việc làm đầy ý nghĩa và thiết thực của Sở.
Lợi ích mà VSAT-IP mang lại cho người dân vùng sâu vùng xa là rất nhiều. Bởi ngoài việc cung cấp thông tin nhanh nhất còn giúp cho người dân hưởng thụ các thành tựu về KH&CN, góp phần nâng cao dân trí, ứng dụng nhanh các tiến bộ vào phục vụ đời sống và trước hết là phục vụ công tác quản lý nhà nước. TS.Mai Anh – Giám đốc Trung tâm Tin học thuộc Bộ KH&CN nhận định đây là dự án thiết thực, cần được nhân rộng tại những địa phương chưa có ADSL.








