Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 17/10/2007 23:40 (GMT+7)

Đổi mới và hiện đại hoá công nghệ trong khai thác và chế biến khoáng sản của Tổng Công ty Thép Việt Nam giai đoạn 2010 - 2025

I. Tiềm năng, nhu cầu và khả năng đáp ứng TNKS đối với sự phát triển của Tổng công ty Thép Việt Nam

1. Nguồn quặng sắt

Kết quả thăm dò và tìm kiếm quặng sắt Việt Nam đã phát hiện trên 216 mỏ và điểm quặng sắt. Có 13 mỏ trữ lượng trên 2 triệu tấn, có 2 mỏ trự lượng lớn nhất (mỏ Thạch Khê có 544 triệu tấn và mỏ Quý Xa có 112,35 triệu tấn). Tổng trữ lượng địa chất và dự báo có khoảng hơn 1,2 tỷ tấn. Trữ lượng tìm kiếm và thăm dò là 761,4 triệu tấn (cấp A + B + C 1là: 568,18 triệu tấn; cấp C 2193,23 triệu tấn). Các mỏ quặng sắt hầu hết phân bố tại các vùng cơ sở hạ tầng kém phát triển, điều kiện khai thác và giao thông không thuận lợi. Ngoài ra còn có một số khó khăn:

- Hàm lượng sắt (Fe) của các mỏ không đồng đều, một số mỏ Fe thấp, nhiều mỏ ở mức trung bình và ít mỏ có Fe cao. Một số mỏ có hàm lượng Mn và hàm lượng Zn trong quặng sắt cao so với quặng sắt của nhiều nước trên thế giới;

- Khi tuyển quặng limonít để nâng cao hàm lượng sắt rất khó khăn.

- Tài liệu địa chất của nhiều vùng quặng sắt thiếu và chưa đủ tính pháp lý.

2. Nguồn nguyên liệu để sản xuất thép hợp kim (Mn, Cr…)

Khả năng khai thác chế biến nguyên liệu trong nước để sản xuất thép hợp kim của Việt Nam giai đoạn 2010 - 2025 có thể đáp ứng đủ nhu cầu.

3. Nguyên liệu trợ dung

Tiềm năng khá lớn, đủ cung cấp cho nhu cầu luyện kim; cần chú ý nâng cao chất lượng và hạ giá thành khai thác.

4. Nguồn than

Than mỡ Việt Nam rất ít nên phải nhập Cốc hay than mỡ từ nước ngoài như Trung Quốc, Nga, Úc, trên cơ sở cam kết dài hạn của Chính phủ các nước này. Nguồn antraxit của Việt Nam có thể sử dụng một phần công nghệ luyện kim phi cốc (Romel, Hyl III…)

5. Nguồn dầu và khí

Khả năng đủ đáp ứng cho luyện kim Việt Nam , nhưng do giá thành khí cao nên chưa có sức thu hút đối với các dự án luyện kim có sử dụng khí.

II. Hoạt động khoáng sản (HĐKS) của Tổng công ty Thép Việt Nam giai đoạn 1995 - 2005

1. Thực trạng công nghệ khai thác và chế biến quặng sắt và than mỡ

a. Thực trạng khai thác và chế biến quặng sắt

- Mỏ sắt Trại Cau (Thái Nguyên) là mỏ đầu tiên ở Việt Nam khai thác với quy mô công nghiệp. Mỏ được Trung Quốc thiết kế từ năm 1963 với công nghệ khai thác lộ thiên và tuyển rửa công suất 295.000 tấn/ năm. Sản lượng khai thác và chế biến quặng sắt mỏ Trại Cau từ 1963 - 2005 bình quân chỉ đạt 200.000 tấn/năm, thấp hơn thiết kế.

- Mỏ sắt Ngường Cháng (Cao Bằng) do Trường Đại học Mỏ Địa chất và Viện Nghiên cứu Mỏ và Luyện kim thiết kế từ năm 2000 - 2004: Công nghệ khai thác và tuyển quặng giống như mỏ Trại Cau. Công suất thiết kế là 120.000 tấn tinh quặng/ năm.

- Mỏ Phục Ninh (Tuyên Quang): Khai thác thủ công bán cơ giới (ô tô và máy xúc), tuyển thủ công với công suất khoảng 30.000 tấn/ năm.

b. Thực trạng khai thác và chế biến quặng sắt các vùng khác

- Vùng Cao Bằng: Khai thác thủ công bán cơ giới (ô tô và máy xúc), tuyển thủ công hay tuyển rửa quy mô rất nhỏ. Trong đó có mỏ Nà Lũng, khai thác với công suất khoảng gần 100.000 tấn/ năm để cung cấp cho lò cao của Tổng công ty Khoáng sản và xuất khẩu tiểu ngạch;

- Các địa phương khác: Khai thác thủ công, tuyển nhặt chọn lọc phục vụ công nghiệp địa phương và tư nhân thu mua bán cho một số tổ chức có pháp nhân xuất khẩu.

c. Thực trạng khai thác và chế biến than mỡ

- Mỏ than Làng Cẩm được thiết kế từ năm 1988 để khai thác khu Nam Làng Cẩm với công suất 60.000 tấn/ năm, theo công nghệ khai thác hầm lò. Điều kiện khai thác rất khó khăn nên giá thành cao. Sản lượng khai thác than nguyên khai bình quân của mỏ hầm lò Nam Làng Cẩm từ 1993 - 2005 là 15.000 tấn/ năm.

- Mỏ than Phấn Mễ từ năm 1993 - 1994 khai thác than theo phương pháp hầm lò, nhưng do than có tính tự cháy cao, điều kiện địa chất phức tạp nên chuyển sang khai thác lộ thiên với công suất 70.000 tấn/ năm. Sản lượng khai thác từ năm 1998 - 2005 bình quân là 100.000 tấn/ năm.

d. Thực trạng khai thác và chế biến nguyên liệu trợ dung

- Khai thác và chế biến đá vôi: Mỏ đá vôi Núi Voi (Công ty Cơ điện và Luyện kim) khai thác từ năm 1960 với công suất thiết kế 23.000 tấn/ năm. Đã thiết kế cải tạo mở rộng với công suất 300.000 tấn/ năm. Mỏ khai thác lộ thiên với hệ số bóc đất 0,11 m 3/m 3.

- Khai thác và chế biến đôlômit: Mỏ Đôlômit Khánh Hoà thuộc quản lý của mỏ đá Núi Voi, công nghệ khai thác và chế biến tương tự như trên. Mỏ đôlômit Thanh Hoá (Công ty Vật liệu chịu lửa và khai thác sét Trúc Thôn) được khai thác từ năm 1976 với công suất 30.000 tấn/ năm theo phương pháp lộ thiên (kết hợp cơ giới thủ công).

- Khai thác và chế biến quaczit: Mỏ Quacxit Phú Thọ (Công ty Gang thép Thái Nguyên) khai thác từ năm 1985 với công suất 3.000 tấn/ năm. Công nghệ khai thác lộ thiên: khoan nổ mìn, cậy phá và tuyển chọn thủ công.

- Khai thác đất chịu lửa và sét: Mỏ đất chịu lửa và sét trắng Trúc Thôn (Tổng công ty Cổ phần Trúc Thôn) được khai thác từ năm 1964 để cung cấp vật liệu chịu lửa làm chất kết dính trong sản xuất gạch chịu lửa samốt A và B. Công nghệ khai thác lộ thiên. Thiết bị: máy xúc thuỷ lực gầu ngược, vận tải ô tô Maz 503, máy gat T - 75.

2. HĐKS của Tổng Công ty Thép Việt Nam giai đoạn 1995 - 2005

Kết quả điều tra đánh giá thực trạng nguồn nhân lực, công nghệ khai thác và chế biến khoáng sản của Tổng công ty Thép Việt Nam giai đoạn 1995 - 2005 có thể đánh giá như sau:

- Nguồn nhân lực HĐKS (bao gồm: cán bộ lãnh đạo (CBLĐ), cán bộ khoa học (CBKH) có trình độ cao đẳng hay đại học và công nhân có tay nghề cao) ở mỏ rất thiếu. Lực lượng cán bộ có trình độ đại học và trên đại học chiếm tỷ lệ chỉ là hơn 15,49 %, thiếu chuyên gia trình độ cao và công nhân kỹ thuật tay nghề giỏi. Số được đào tạo chính quy sau khi ra trường hầu như không được đào tạo lại để nâng cao trình độ, số trẻ ít được chú ý đào tạo mới. Do cuộc sống của người lao động tại các vùng mỏ khó khăn nên không thu hút lực lượng trẻ, có trình độ về công tác tại mỏ.

- Công nghệ và thiết bị khai thác và chế biến TNKS chưa hiện đại (một số thiết bị khai thác cũ và lạc hậu), nên công suất bị hạn chế và không đảm bảo thiết kế trong các dự án;

- Việc đầu tư cho nghiên cứu KHCN liên quan đến HĐKS chưa được chú trọng thích đáng. Trang thiết bị phục vụ cho công tác nghiên cứu KHCN khai thác và chế biến nguyên vật liệu hầu như không có;

- Do nhu cầu nguyên vật liệu của ngành thép trong giai đoạn vừa qua chưa cao nên chính sách đầu tư cho hoạt động khoáng sản (bao gồm công tác thăm dò và điều tra tài nguyê, khai thác tuyển và chế biến nguyên liệu, tổ chức và quản lý…) của Tổng công ty chưa được chú trọng thích đáng.

III Đổi mới và hiện đại hoá công nghệ khai thác, chế biến và sử dụng TNKS trong nước giai đoạn 2010 - 2025

1. Xây dựng các giải pháp

Để nâng cao hiệu quả HĐKS và bảo vệ môi trường (BVMT) của Tổng công ty Thép Việt Nam giai đoạn 2010 - 2025 cần thực hiện “Hệ thống các giải pháp”, dưới đây xin được trình bày chi tiết một số giải pháp cụ thể mang tính cấp bách hơn cả.

a. Giải pháp thứ nhất - nâng cao hiệu lực quản lý HĐKS và BVMT

- Triển khai và thực hiện nghiêm các văn bản pháp lý (Luật và các văn bản dưới Luật) có liên quan về quản ký TN và BVMT: Tổng công ty Thép Việt Nam là một doanh nghiệp lớn của Nhà nước phải có trách nhiệm thực hiện tốt việc quản lý tài nguyên được Nhà nước giao cho để phục vụ chiến lược phát triển ngành. Vì vậy, ngoài việc tuân thủ các hệ thống văn bản pháp lý Nhà nước, Tổng công ty phải xây dựng “Chiến lược quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường của ngành thép Việt Nam giai đoạn 2010 - 2025”.

- Năm 2006 - 2007 phải xây dựng ban hành và thực hiện “Quy chế bảo vệ môi trường của Tổng công ty Thép Việt Nam ”. Vì quy chế này sẽ mang lại lợi ích:

+ Cải thiện điều kiện và môi trường cho người lao động trong các cơ sở luyện kim của Tổng công ty (bao gồm các HĐKS và sản xuất thép), góp phần hạn chế bệnh nghề nghiệp và phòng ngừa tai nạn lao động, tăng năng suất lao động và hiệu quả sản xuất;

+ Góp phần bảo vệ tài nguyên khoáng sản và môi trường sinh thái; Tăng cường hiệu lực pháp lý của Luật Khoáng sản và Luật Bảo vệ môi trường đã được Chính phủ ban hành;

+ Giai đoạn 2008 - 2010 phải kiểm soát được vấn đề gây ô nhiễm môi trường của các cơ sở theo TCVN và tiêu chuẩn ISO 14000.

b. Giai đoạn thứ 2 - Nâng cao nhận thức cho mọi cá nhân và tổ chức về HĐKS và BVMT

- Tìm mọi biện pháp để cho cán bộ lãnh đạo (CBLĐ) nhận thức đầy đủ vai trò, vị trí và tiềm năng của tài nguyên khoáng sản (TNKS) và BVMT đối với sự phát triển của Tổng công ty. Vì CBLĐ là người ra quyết định về chủ trương, chính sách phát triển. Nếu CBLĐ nhận thức không đầy đủ sẽ có những quyết định không đúng về chiến lược sử dụng TNKS và BVMT;

- Quán triệt để các doanh nghiệp của Tổng công ty hiểu (quyền lợi, nghĩa vụ, quyền hạn, trách nhiệm) và thực hiện tốt pháp luật để quản lý tài nguyên và môi trường.

- Phối hợp với cơ quan chức năng tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử phạt các vi phạm HĐKS và BVMT ở các đơn vị.

c. Giải pháp thứ 3 - Kiện toàn tổ chức về HĐKS và BVMT từ Tổng công ty đến các đơn vị.

- Kiện toàn tổ chức quản lý HĐKS và BVMT từ Tổng công ty xuống các cơ sở khai thác, chế biến nguyên liệu và các đơn vị sản xuất kinh doanh trong Tổng công ty; Tổ chức quản lý và phân cấp quản lý phù hợp điều kiện thực tế của Tổng công ty nhưng không trái với quy định của luật pháp hiện hành;

- Từ năm 2006 - 2008 cần thực hiện một số việc như sau:

+ Quản lý của Tổng công ty: Nhóm quản lý Tài nguyên và Môi trường phải có số lượng cán bộ 4 - 5 người do 1 phó phòng Kỹ thuật trực tiếp lãnh đạo;

+ Quản lý các đơn vị cơ sở: Kiện toàn, biên chế và xây dựng quy chế trách nhiệm đối với cán bộ tham gia công tác quản lý HĐKS và môi trường ở cơ sở.

- Từ năm 2008 - 2010 khi nhu cầu khai thác TNKS tăng lên sẽ xúc tiến việc thành lập Phòng quản lý Tài nguyên và Môi trường ở Văn phòng Tổng công ty. Điều này hoàn toàn phù hợp với mô hình quản lý của Nhà nước thông qua Bộ Tài nguyên và Môi trường.

d. Giải pháp thứ 4 - Đào tạo nguồn nhân lực cho HĐKS và bảo vệ môi trường

- Củng cố và nâng cao trình độ cán bộ quản lý HĐKS và BVMT (kiêm nhiệm hay chuyên trách) ở các cơ sở. Tăng cường đội ngũ cán bộ nghiên cứu và thiết kế công nghệ mỏ, công nghệ môi trường ở cơ sở và viện nghiên cứu khoa học. Xây dựng quy chế tuyển chọn, chế độ tiền lương phù hợp và có chính sách ưu tiên con em những người lao động trong các đơn vị HĐKS;

- Tổ chức đào tạo mới và đào tạo lại đội ngũ CBKH của các cơ sở, lưu ý tới đội ngũ Giám đốc điều hành mỏ và Trưởng phòng Kỹ thuật của mỏ.

e. Giải pháp thứ 5 - Đổi mới công nghệ và thiết bị khai thác và chế biến TNKS

- Đầu tư chiều sâu đổi mới công nghệ và thiết bị khai thác chế biến khoáng sản đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Đến năm 2010   loại bỏ tất cả các thiết bị xúc bốc đã quá lạc hậu và quá cũ.

- Tổng công ty không chấp nhận phê duyệt những dự án đầu tư mới HĐKS và sản xuất thép với công nghệ lạc hậu, thiết bị cũ và không đảm bảo điều kiện môi trường.

- Hợp tác với nước ngoài trong nghiên cứu KHCN, đào tạo nhân lực (về lĩnh vực liên quan đến HĐKS và môi trường) và chuyển giao công nghệ.

g. Giải pháp thứ 6 - Tăng cường nguồn tài chính cho đầu tư và nghiên cứu KHCN về HĐKS và bảo vệ môi trường

- Xây dựng quy chế quản lý tài chính của Tổng công ty nhằm sử dụng hiệu quả nguồn vốn cho phát triển, tiết kiệm và bảo toàn vốn;

- Xây dựng chính sách vay nợ và quản lý nợ hợp lý, cần có cơ chế thưởng phạt rõ ràng trong việc đòi nợ đối với các đơn vị thành viên Tổng công ty;

- Huy động vốn đóng góp, phát hành trái phiếu doanh nghiệp để đầu tư cho một số dự án trọng điểm và có hiệu qủa cao;

- Xây dựng danh mục các dự án để kêu gọi đầu tư với nước ngoài. Hiện nay một số nước rất quan tâm đến các dự án khai thác mỏ và môi trường vì thế cần tranh thủ nắm bắt cơ hội này.

2. Tiến trình thực hiện các giải pháp cụ thể của Tổng công ty Thép Việt Nam

a. Lập và triển khai các dự án đầu tư khai thác và chế biến quặng sắt

- Từ năm 2006 - 2010: Tận dụng cơ sở hiện nay của mỏ Trại Cau để khai thác tận thu các khu cũ và mở mới các khu còn lại đảm bảo công suất 250.000 tấn quặng tinh/ năm phục vụ cho giai đoạn I và II của Công ty Gang thép Thái Nguyên;

- Từ năm 2006 - 2015: Tiến hành lập dự án và đầu tư khai thác quặng sắt mỏ Tiến Bộ với công suất 200.000 tấn quặng tinh/ năm phục vụ cho giai đoạn II cải tạo Công ty Gang thép Thái Nguyên;

- Từ 2006 - 2020: Lập dự án và đầu tư khai thác mỏ quặng sắt Quý Xa phục vụ sản xuất gang tại Lào Cai và một phần cấp cho Công ty Gang thép Thái Nguyên;

- Từ 2006 - 2025: Lập dự án và đầu tư khai thác mỏ quặng sắt Thạch Khê (Hà Tĩnh) phục vụ cho Nhà máy liên hợp luyện kim và nhu cầu quặng sắt cho các dự án luyện kim trong nước.

b. Triển khai các đề tài NCKH liên quan đến khai thác và chế biến khoáng sản

- Năm 2006 - 2008: Nghiên cứu áp dụng công nghệ số hoá để quản lý tài liệu địa chất quặng sắt Việt Namvà các mỏ giao Tổng công ty Thép Việt Nam quản lý theo Quy hoạch quặng sắt được Chính phủ phê duyệt;

- Đến năm 2010: Sử dụng chương trình phần mềm “Quản lý tài nguyên” (theo dõi và cập nhật số liệu thực tế khai thác, quản lý số liệu từng loại TNKS để phục vụ lập quy hoạch khai thác) trên phạm vi toàn Tổng công ty;

- Năm 2006 - 2008: Nghiên cứu các giải pháp nâng cao năng suất khai thác, giảm hệ số bóc đất, tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường; Nghiên cứu giải pháp hoàn thổ sau khi khai thác của các mỏ khoáng sản;

- Năm 2006 - 2008: Hoàn thành đề tài nghiên cứu và áp dụng công nghệ luyện kim để sử dụng hiệu quả quặng sắt của Việt Nam có Mangan cao;

- Năm 2006 - 2008: Nghiên cứu và áp dụng nghiên cứu công nghệ tuyển để giảm độ tro trong than mỡ vùng Tây Bắc phục vụ cho sản xuất Cốc luyện kim.

IV. Kết luận

Việc nghiên cứu đề xuất giải pháp nhằm “Đổi mới và hiện đại hoá công nghệ trong khai thác và chế biến khoáng sản của Tổng công ty Thép Việt Nam giai đoạn 2010 - 2025” là yêu cầu rất cấp thiết. Trong quá trình triển khai thực hiện không nên coi nhẹ giải pháp nào, nếu giải pháp này thực hiện không tốt và kém hiệu quả thì các giải pháp khác sẽ bị ảnh hưởng. Chẳng hạn nhận thức của CBLĐ không đầy đủ (GP2) thì không thể có quyết định đúng để thực hiện đổi mới tổ chức quản lý và giải quyết nguồn vốn nêu ở GP 3 và GP 6.

Tài liệu tham khảo

  1. Các báo cáo hoạt động sản xuất của Tổng công ty Thép Việt Nam từ năm 2000 - 2005.
  2. Tập “Văn bản Pháp luật về KS, KHCN, MT” 4 tập. Hà Nội năm 2000 và 2005.
  3. Chiến lược phát triển ngành Thép Việt Nam đến năm 2010. Hà Nội năm 2001.
  4. Nghiêm Gia và một số tác giả. Tiềm năng và nhu cầu nguyên liệu của ngành Thép Việt Nam . Hội thảo KH Đề tài cấp Nhà nước KHCN 07 - 13. Hà Nội năm 2000.
  5. Nghiêm Gia, Nguyễn Văn Thông. Định hướng phát triển HĐKS của Tổng công ty Thép Việt Nam . Tạp chí Công nghiệp Mỏ số 3. Hà Nội năm 2000.
  6. Nghiêm Gia. Vai trò Công nghiệp Mỏ đối với sự phát triển Công nghiệp Việt Nam giai đoạn 2005 – 2010. Hội thảo Khoa học toàn quốc “Một số vấn đề quản lý Công nghiệp Mỏ ở nước ta”. Đà Lạt tháng 7 năm 2002.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.