Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 27/07/2006 00:39 (GMT+7)

Định ngữ nghệ thuật trong ngôn ngữ trần thuật của Nguyễn Tuân

Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp chủ trương cách hiểu định ngữ là một thành phần nằm trong hệ thống thành phần phụ của câu tiếng Việt. Trong công trình Thành phần câu tiếng Việt, các tác giả này viết: “Theo quá trình phân xuất và nhận diện câu của mình, chúng tôi xác định sự tồn tại của một thành phần mà chúng tôi gọi là định ngữ câu, xem nó là loại thành phần phụ có thể đứng trước nòng cốt câu hoặc chen vào giữa chủ ngữ và vị ngữ, có nhiệm vụ biểu thị những ý nghĩa hạn định về tình thái hoặc cách thức cho sự tình được nêu trong câu” (1).

Thành phần được gọi là định ngữ câutheo quan niệm của Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp không giống với cách hiểu thành phần định ngữở một vài tác giả trong giới nghiên cứu Việt ngữ. Theo Nguyễn Văn Tu, “Định ngữ là thành phần phụ của cụm danh từ trong câu, có chức năng bổ sung thêm cho thành phần chính bằng quan hệ phụ thuộc, chỉ ra các thuộc tính, tính chất của người, vật, sự vật, hiện tượng do danh từ làm thành phần chính gọi tên” (2). Diệp Quang Ban cũng cho rằng: “Định ngữ là thành phần phụ của từ đi kèm danh từ và nêu lên những đặc trưng của vật do danh từ ấy biểu thị” (3). Đối tượng mà chúng tôi tiếp cận ở đây chính là định ngữ được xác định theo quan niệm này.

Trong nghiên cứu ngôn ngữ văn chương, người ta thường quan tâm nhiều hơn đến khái niệm định ngữ nghệ thuật.

Định ngữ nghệ thuậtđược hiểu là “một phương thức chuyển nghĩa, trong đó, một từ (hoặc một cụm từ) đóng vai trò phụ nghĩa cho một từ (hoặc cụm từ) khác nhằm làm nổi bật một đặc điểm nào đó của đối tượng để tạo nên ấn tượng thẩm mĩ” (4).

Có thể xem khái niệm định ngữ nghệ thuậtđịnh ngữ thườngkhông hề khác nhau về cấu tạo cũng như cương vị ngữ pháp trong câu. Điểm phân biệt cơ bản nhất là ở chỗ: “ định ngữ thườngchỉ có ý nghĩa xác định đặc điểm vốn có của sự vật, hiện tượng, không đem lại hiệu quả thẩm mĩ; định ngữ nghệ thuậtmang lại một ý nghĩa mới cho sự vật, hiện tượng, không chỉ ý nghĩa vốn có mà còn ý nghĩa có thể có, tạo cảm xúc cho người đọc, người nghe” (5).

Định ngữ nghệ thuật được dùng khá phổ biến trong ngôn ngữ văn học, đặc biệt là thơ ca. A.N. Vêxelôpxki cho rằng: “Lịch sử của định ngữ nghệ thuật là lịch sử phong cách thi ca dưới dạng rút gọn” (6). Trong văn xuôi, cách sử dụng định ngữ nghệ thuật ở các tác giả ít nhiều có sự khác nhau. Tần số xuất hiện cũng như tỉ lệ câu văn có chứa định ngữ nghệ thuật so với tổng số câu trần thuật trong truyện của Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan chênh lệch nhau không đáng kể. Tính trung bình, ở truyện Thạch Lam, cứ 27,6 câu trần thuật có 1 câu chứa định ngữ, tỉ lệ là 3,6%, ở truyện Vũ Trọng Phụng là 1/23,7, tỉ lệ 4,2%; Nam Cao: 1/23,5, tỉ lệ 4,3%; Nguyễn Công Hoan: 1/30,3, tỉ lệ 3,3%.

Trong khi đó, ở truyện Nguyễn Tuân, bình quân cứ 5,2 câu văn trần thuật thì có một câu chứa định ngữ nghệ thuật. Tỉ lệ chung là 19,7%, vượt xấp xỉ 3 lần so với bốn tác giả nói trên. Những số liệu đã cho thấy Nguyễn Tuân chú trọng khai thác một cách tối đa nhưng khả năng biểu hiện của hình thức ngôn ngữ này.

Trong văn học, khi một nhà văn không chú ý đến phương thức tu từ nào đó (phản ánh trước hết qua mặt định lượng), thì biện pháp đó khó mà để lại những dấu ấn gì riêng trong ngôn ngữ tác phẩm. Các định ngữ nghệ thuật trong lời văn của những tác giả được khảo sát trên (trừ Nguyễn Tuân), dường như mới chỉ phân biệt được với định ngữ thông thường ở tính tạo hình, tính tình thái của câu văn. Chẳng hạn:

- Lang Rận lại là một anh chàng bẻo lẻo.

( Lang Rận- Nam Cao)

- Chỉ nhìn cái điệu bộ cỏn con của anh ta , các khán quan cũng phải ôm bụng mà cười, vỗ tay đôm đốp.

( Kép Tư Bền- Nguyễn Công Hoan)

- Xong cuộc, anh về nhà trình diện mẹ, bị đánh chửi là đêm nào cũng đi, như một người con chí hiếu ở thế kỷ 20 vậy.

( Người có quyền- Vũ Trọng Phụng)

Ở Nguyễn Tuân, sự thể lại khác hẳn. Không chỉ phong phú về số lượng, định ngữ nghệ thuật của ông còn rất đa dạng, đặc sắc về nhiều phương diện.

Có thể nhận thấy điều này trước hết ở loại định ngữ có cấu tạo là một từ trong lời văn Nguyễn Tuân. Đây là loại định ngữ nghệ thuật đòi hỏi một khả năng sáng tạo rất cao, bởi trong dung lượng một từ, nếu không tạo ra sự đặc dị thì khó mà gây được ấn tượng gì đáng kể. Nguyễn Tuân đã vượt qua những thách thức nghiệt ngã này. Ông chọn để đặt vào vị trí của định ngữ những từ ít ai ngờ tới: chén trà sương , bữa rượu máu , bữa rượu đầu lâu , hương cuội , mùi dâm bôn , hòn lửa ngon lành , mùi thơ , vị triết lí , tiếng hát u hiểm , lối phú quý chơi trèo , chén trà phát du , cái tiểu sử quái quỉ , lá màn bệnh , cái chén gỗ tuỳ thân , quỹ hành lạc , cái nghĩa rượu , nét cười bạo ngược , cuộc đỏ đen rất trí thức , chất vui sướng , bóng tối nặc danh

Mô hình phổ biến của loại định ngữ nghệ thuật kiểu này thường là: Danh từ + tính từ (kiểu: anh chàng bẻo lẻo , điệu bộ cỏn con …). Nhưng trong tác phẩm của Nguyễn Tuân, loại định ngữ này còn có cấu trúc khá đặc biệt: danh từ + danh từ (kiểu: chén trà sương, bữa rượu máu , mùi thơ , vị triết lí …). Điều đáng nói là, loại cấu trúc ít gặp trong tác phẩm những nhà văn khác, lại xuất hiện khá thường xuyên trong lời văn Nguyễn Tuân. Công phu sáng tạo ngôn ngữ của ông thể hiện rất rõ ở điểm này.

Tuy nhiên, trong truyện Nguyễn Tuân, số định ngữ có cấu tạo là một cụm từ, một cụm chủ - vịvẫn chiếm tỷ lệ cao hơn. “Với khuôn khổ của một từ tổ hoặc một cụm C-V, nhà văn sẽ rộng đường hơn trong việc tìm tòi, sáng tạo, bằng cách phát huy tối đa những khả năng mà trục kết hợpcho phép, tạo ra những “bất ngờ cú pháp” (chữ của Nguyễn Phan Cảnh). Một khi khả năng biểu hiện của từ đơn tiết cũng như lối kết hợp thông thường đã lộ rõ những giới hạn, thì những kết hợp có vẻ “bất thường” lại đem đến những hiện quả thẩm mĩ nhất định. Người đọc sẽ có cái thú vị khi nhìn ra những nét mới ở đối tượng, bật ra những “kênh” liên tưởng khác nhau mà nhà văn đã khơi mở bằng những hình ảnh trong định ngữ nghệ thuật. Chẳng hạn, Bố Ô - một hậu duệ của Lưu Linh, mỗi sáng thường ngồi ở một trong năm cửa ô Hà Nội, nếm rượu của các cô hàng rượu đi qua - được Nguyễn Tuân gọi là “ một đứa con nuông già nua hom hem của tất cả những ô vào kinh thành ” (Bố Ô). Hai vế của định ngữ tạo nên tương quan đối nghịch ( đứa con nuông - già nua hom hem ), nhưng chính sự đối nghịch ấy mới thể hiện đúng cái gu thẩm mĩ, cái “chất Nguyễn Tuân” trong cách sử dụng ngôn từ. Sự thống nhất của những đối cực vốn là một nét nổi bật trong phong cách nghệ thuật cũng như phong cách ngôn ngữ của Nguyễn Tuân. Thông thường, đối với mỗi con người, quê hương là nơi thiết thân, gắn bó (ít nhất là trong tâm tưởng), nhưng ở người “tửu đồ” kia, “mỗi buổi mặt trời gần hửng, cửa ô nào đối với ông già cũng đều là một cái quê hương trong chốc lát của mỗi ngày ”. Và trước con mắt kẻ say, thì người đời cũng chỉ là những “ nhân ảnh của một giấc chiêm bao thú vị ” (Bố Ô).

Một hiện tượng khá nổi bật ở lời văn Nguyễn Tuân là sự dôi dư các yếu tố ngôn từ nếu xét từ yêu cầu thuật chuyện thuần tuý. Sự dôi dư này biểu hiện trên tất cả các cấp độ ngôn từ tác phẩm. Trong thực tế sáng tạo, một hình thức xuất hiện bao giờ cũng gắn với một quan niệm nghệ thuật. Vì thế, độ dư ngôn từ trong lời văn Nguyễn Tuân không gây cho người đọc cảm giác thừa thãi, dù đọc văn ông, nhiều khi độc giả như bị dẫn vào những “mê cung bí hiểm”, vào những “trận đồ bát quái” chữ nghĩa, độ dư mà ông tạo ra luôn luôn cần thiết để biểu đạt những cảm nhận phong phú, nhiều chiều của ông về đối tượng. Ông không chấp nhận lối định danh giản đơn về một sự vật, một hiện tượng, một con người được nói đến trong tác phẩm của mình. Đối tượng bao giờ cũng phải được khắc hoạ thật nổi bật, sinh động bằng những hình hài, đường nét, góc cạnh riêng, không giống với những gì đã từng xuất hiện trong văn phẩm của bất kì ai khác. Điều này dẫn đến một số hệ quả: thứ nhất, số lượng định ngữ nghệ thuật trong lời văn Nguyễn Tuân vượt rất xa so với những người cầm bút cùng thế hệ; thứ hai, định ngữ nghệ thuật của Nguyễn Tuân có mặt ở tất cả các thành phần câu (trong khi ở những tác giả mà chúng tôi đã khảo sát, đại bộ phận định ngữ nằm trong thành phần vị ngữ); thứ ba, Nguyễn Tuân thường dùng những định ngữ dài, trổ nhiều nhánh, nhiều tầng bậc, có cấu trúc phức hợp. Rất hiếm gặp trong lời văn của các tác giả khác những câu có chứa định ngữ nghệ thuật như kiểu của Nguyễn Tuân:

- “Cái áo vải trắng của cậu Chiêu đã biến thành một áo lụa màu xanh của một người phong lưu và đa tình. Đấy là cái màu xanh dịu mát của chất ngọc bích ; đấy là cái màu xanh ở những cánh đồng lúa non ngút ngàn của những xứ sở không bao giờ có nạn binh lửa ” (Ngôi mả cũ).

- “Thần núi và vị hoàng tử Nước kia đã là một thiên tình sử thoát phàm trong cái mơ hồ vô tận ở tít trên một chỏm non xanh, ở tít tận dưới đáy một thuỷ cung ” (Trên đỉnh non Tản).

- “Lùng tìm cái dấu bàn chân một chính khách thất quốc lúc vượt bể ra ngoài mưu việc lớn , có lẽ còn dễ hơn đi đuổi theo ông Cử Hai những lúc cái hứng giang hồ ở người ông nổi dậy” (Đèn đêm thu).

Cách sử dụng định ngữ nghệ thuật của Nguyễn Tuân đã ảnh hưởng rõ rệt đến lối kiến trúc câu văn. Qua khảo sát và phân tích, chúng tôi nhận thấy, hễ trong câu xuất hiện một danh từ, bất luận ở vị trí nào, lập tức một định ngữ được kiến tạo để làm rõ thuộc tính, đặc điểm của đối tượng mà danh từ ấy biểu đạt. Ông không ngại dùng định ngữ quá nhiều khiến cho câu văn trở nên dài dòng, rậm rịt:

- “Trong đời sống hàng ngày của trại an trí, người tù bị đầy kia là tượng trưng cho đời tù của bọn trí thức say đắm với công cuộc, vướng luỵ vì hoài bão, đưa cách mệnh lên thành một tôn giáo , và trong cảnh đày ải tù tội, tinh thần lúc nào cũng vững vàng như cái thái độ bất diệt của bậc chân tu chuyên nhất trong niềm đạo hạnh ” (Chùa Đàn).

- “Mỗi lần nếm thử các thứ rượu cất ở các thứ nồi nấu khác nhau , không phải trả tiền, và nhắm bằng cái đinh đóng thuyền ấy , ông già lại khoan khoái nhìn theo những đám quang gánh xinh gọn kia nhoè biến vào sương khói dày đặc bên hữu sông như những nhân ảnh của một giấc chiêm bao thú vị hồ tỉnh là muốn nối lại ngày ” (Bố Ô).

Phức hoá thành phần câu bằng nhiều phương thức, trong đó có việc dùng định ngữ là một nét nhất quán trong đặc điểm cú pháp Nguyễn Tuân. Không hiếm trường hợp trong một câu, ông tung ra một loạt định ngữ, do vậy, câu văn phải dãn ra để các bộ phận của nó có thể dung chứa những thành phần phụ được phát triển đến mức đôi khi làm nhoè mờ cả phần nòng cốt của câu. Số lượng trường cú, vì thế, chiếm một tỉ lệ không nhỏ trong tổng số câu trần thuật của Nguyễn Tuân.

“Định ngữ nghệ thuật là kết quả sự phát hiện của nhà văn” (7). Có nghĩa, bằng định ngữ nghệ thuật người viết đã thực sự đem đến cho độc giả những thức nhận mới mẻ về đối tượng. Cái mới đó chính là kết quả của một cách nhìn, một cách cảm nhận, một lối liên tưởng khác lạ, độc đáo. Nói theo ngôn ngữ Nguyễn tuân, đấy là một kiểu “nhãn quan riêng”. Dùng định ngữ nghệ thuật, Nguyễn Tuân đã biết phát huy cao nhất hiệu lực của nó. Qua đó, ta thấy được một kiểu tư duy nghệ thuật, một lối tạo hình giàu ấn tượng, một tiết tấu riêng của lời văn, đặc biệt, một kiểu tổ chức ngôn từ in đậm bản sắc của chủ thể.

_______________

Tài liệu tham khảo

(1) Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp (2004) - Thành phần câu tiếng Việt, NXB ĐHQG Hà Nội, tr. 305.

(2) (3) Nguyễn Như Ý chủ biên (1996) - Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, NXB GD Hà Nội, tr. 89, 90.

(4) (5) (7) Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên (2004) - Từ điển thuật ngữ văn học, NXB ĐHQG Hà Nội, tr. 119, 120.

(6) Trần Đình Sử (1998) - Giáo trình dẫn luận thi pháp học, NXB GD Hà Nội, tr. 171.

Nguồn: Ngôn ngữ & Đời sống, số 11 (121), 2005

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Đắk Lắk: Đội ngũ trí thức đồng hành cùng báo chí cách mạng
Thông qua các công trình nghiên cứu, bài viết chuyên sâu, hoạt động tư vấn, phản biện xã hội và truyền thông khoa học, đội ngũ trí thức Đắk Lắk đã góp phần làm phong phú nội dung báo chí, lan tỏa tri thức, định hướng dư luận xã hội và cung cấp những luận cứ khoa học, thực tiễn phục vụ sự phát triển của địa phương trong thời kỳ mới.
Bà Hà Hoàng Yến làm Giám đốc Quỹ VIFOTEC
Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam Phan Xuân Dũng mong muốn bà Hà Hoàng Yến trên cương vị Giám đốc Quỹ VIFOTEC tiếp tục phấn đấu, rèn luyện, sâu sát, phát huy tốt vai trò và nhiệm vụ mới được phân công để góp phần cùng tập thể cán bộ Quỹ VIFOTEC vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.
Quyết định số 185-QĐ/TW: Bộ Chính trị giao 1.878.362 biên chế năm 2026
Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành Quyết định số 185-QĐ/TW ngày 02/6/2026, về biên chế các ban, cơ quan, đơn vị sự nghiệp của Đảng ở Trung ương; cơ quan Mặt trận Tổ quốc, cơ quan tham mưu, giúp việc Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Đảng uỷ các cơ quan Đảng Trung ương và các tỉnh, thành phố năm 2026.
DigiFest 2026 và tinh thần đưa chuyển đổi số đi vào thực chất
Tại Diễn đàn quốc gia số Việt Nam - DigiFest 2026 vừa qua, các chuyên gia khẳng định, chuyển đổi số không đơn thuần là việc số hóa những quy trình cũ, mà phải kiến tạo những phương thức vận hành mới dựa trên công nghệ số để giải quyết hiệu quả các vấn đề thực tiễn, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân, doanh nghiệp;tạo ra giá trị mới và động lực tăng trưởng cho nền kinh tế Việt Nam.
GS.VS.TSKH Trần Đình Long: Khoa học chỉ thật sự có giá trị khi đến được với người dân
Từ một cậu học trò nghèo đất Tổ Phú Thọ đến nhà khoa học được quốc tế ghi nhận, được vinh danh Công dân Thủ đô ưu tú năm 2025, hành trình của ông là câu chuyện đẹp về lòng say mê tri thức, tinh thần cống hiến và niềm tin bền bỉ vào tương lai của nền nông nghiệp Việt Nam.